NGUYÊN TỔ HỌ HỒ Ở VIỆT NAM- nguồn từ hohovietnam.vn

NGUYÊN TỔ HỌ HỒ Ở VIỆT NAM











Nguyên tổ họ Hồ tại Việt Nam ngài là Hồ Hưng Dật vốn người tỉnh Chiết Giang thời hậu Hán Ngũ Quí (Trung Quốc ngày nay ) sau đó sang làm Thái Thú Diễn Châu ( Nghệ An). Do loạn 12 xứ quân ngài từ quan về ở ẩn tại hương Bào Đột( Xã Quỳnh Lâm huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An) rồi làm trại chủ. Những đời về sau con cháu của Ngài có mặt khắp mọi miền đất nước và ngày càng làm rạng danh giòng họ Hồ.

 

 

 
Từ đời thứ II đến đời thứ XI không chấp nối thế thứ được. Đời XII ngài Hồ Liêm ( Làm con nuôi Ngài Tuyên sứ Lê Huấn ) ở hương Đại Lại Hà Đông Hà Trung Thanh Hoá. Cháu 4 đời của Hồ Liêm là Hồ Quí Ly lập nên triều đại nhà Hồ (1400 - 1407). Hồ Liêm là thái thuỷ tổ họ Hồ Thanh Hoá.
          Một nhánh họ Hồ khác sinh sống tại làng Quỳnh Đôi huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An là ngài Hồ Kha đời thứ XIII. Ngài Hồ Kha có hai con con trưởng là Hồ Hồng con thứ là Hồ Cao. Hồ Hồng là thuỷ tổ họ Hồ Quỳnh Đôi. Hồ Cao là thuỷ tổ họ Hồ Tam Công làng Qui Trạch Yên Thành tỉnh Nghệ An. Hồ Hồng có ba con trai: Hồ Hân và Hồ Hữu Nhân sinh sống tại Quỳnh Đôi. Hồ Thuận Hóa vào  miền Nam. Sau đó Hồ Hồng tham gia quân đội chỉ huy hơn 2000 lính vào trấn thủ Tân Bình - Thuận Hoá. Tại Tân Bình ông còn ngôi lăng mộ nguy nga. Tại Thuận Hoá ông có vợ và con cháu sinh sống đông đúc tại 2 phủ Tân    bình và Thuận Hoá.Hồ Hồng là thuỷ tổ Họ Hồ An Cưu An Truyền huyện Phú Vang – Thừa Thiên và là thỉ tổ họ Hồ làng Cẩm Sa xã Điện Nam huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam.
Hồ Hân và bà chánh thất Hoàng Thị Xạ sinh hai con trai. Con trưởng là Hồ Ước lể con thứ là Hồ An; với bà kế thất sinh Hồ Hưởng Phúc (sinh sống tại làng Quỳnh Đôi Quỳnh Lưu) tại làng Thượng Yên.
Con cháu của ngài Hồ Hân rất phát triển nổi bật như : Ba anh em nhà Tây Sơn: Nguyễn Nhạc Nguyễn Huệ Nguễyn Lữ. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương; 3 trạng nguyên : Hồ Sĩ Đống Hồ Phi Tích Hồ sĩ Tôn; Tể tướng Hồ Sĩ Dương; các Tiến sĩ Hồ Ước Lễ Hồ Sĩ Tân Hồ Doãn Hài Hồ Trọng Kỳ Hồ Sĩ Tuấn….
Quang Trung- Nguyễn Huệ   Đời Lê Trang Tông Nguyễn Hoàng được phong tước Đoan Quận Công. Hiểu ý câu nói của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “ hoành sơn Nhất Đai Vạn Đai Dung thân” và theo lời khuyên của cậu là Nguyễn Ư Kỷ ngài nhờ chị là Ngọc Bảo xin Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ Thuận Hoá.
Năm Mậu Ngọ (1558) Nguyễn Hoàng đem những người đồng hương huyện Tống Sơn tỉnh Thanh Hoá: Nguyễn Ư Kỷ Nguyễn Dương Trương Phúc Gia Tống Hữu Sĩ. Nguyễn Đức Tráng và 1000 nghĩa dũng tỉnh Thanh Hoá vào trấn thủ Thuận Hoá vào đóng quân tại Ai Tử huyện Vũ Xương ( Quảng Trị)
Xem hìnhHồ Minh  có mặt trong đoàn nghĩa dũng đất Thanh Hoá. Ngài Hồ Minh là hậu duyệt của tổ Hồ Liêm – thái thỉ tổ họ Hồ Thanh Hoá tổ 4 đời của hoàng đế Hồ Quí Ly.
          Ngài Hồ Minh có khám thờ và hài vị thờ tại miếu ông làng Nguyệt Biều. Bài vị đế “Hồ Minh  đại lang tiến sĩ Tùng Tiên Vương nhập nam và hứa thực biệt ban Nguyệt Biều”
Đệ nhất thế thỉ tổ: Hồ Minh
Đệ nhị thế tổ: Ông thuật Hồ Đình Thám
Đệ tam thế tổ: Ông thái Hồ Đình Tú
Đệ tứ thế tổ: Ông chữ Hồ Đình Ỷ
                     Thành nhà Hồ ở Thanh Hóa và Hồ Quý Ly     Đệ ngủ thế có 6 dánh. Hiện nay có hai dánh.Dánh I Thỉ tổ là ngài Hồ Đình Câu. Dánh II là ngài Hồ Quang Đội.
Đệ lục thế tổ: Hồ Quang Đại
Hồ Quang Đại đổ thủ khoa khoa thi chính năm Nhâm Thìn (1652). Ngài được bổ vào Văn Chức Viện tại Chính Dinh ( 1652). Năm Thái Tông thứ VIII (1656) được trao chức tri huyện Phú Vang. Năm Thái Tông thứ XI (1659) được Thăng làm tri phủ Thăng Hoa ( Quảng Nam + Quảng Ngãi). Năm 1667 được triệu về Chính dinh phong làm phụ chính  đi  duyệt tuyển các phủ huyện. Các tờ sắc cấp cho Hồ Quang Đại hiện thờ tại miếu ông làng Nguyệt Biều cho biết:
-        Năm 1667 duyệt tuyển huyện Tuy Viễn phủ Qui Ninh
-        Năm 1668 duyệt tuyển huyện Phù Ly phủ Qui Ninh
-        Năm 1669 duyệt tuyển huyện phủ Diên Ninh Phủ Phụng Khương
-        Năm 1669 duyệt tuyển huyện Huyện Tuy Viên Phủ Qui Ninh
-        Năm 1669 duyệt tuyển huyện huyện Gia Môn Phủ Qui Ninh
-        Năm 1670 duyệt tuyển huyện huyện Bồng Sơn Phủ Qui Ninh
-        Năm 1671 duyệt tuyển huyện huyện Tuy Viễn Huyện Phù Ly
Phủ Qui Ninh nay là tỉnh Bình Định phủ Diên Ninh nay là Ninh Hoà Phủ Phụng Khương sau đổi là Thái Khương nay là Tỉnh Khánh Hoà.
Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn ghi: Đến đời chúa Hiền ( Nguyễn Phúc Tần ) việc đo đạc mới chu đáo hơn và các ruộng đất cùng ngạch thuế được ấn định rõ ràng. Năm kỷ dậu 1669 sai dân thần là Hồ Quang Đại chia nhau đi đo đạc những ruộng đất cày cấy của các xã dân các hạng.
Năm 1672 ngài Hồ Quang Đại được cử làm Thi Giảng Tri Kinh Diên cho chúa Nghĩa ( Nguyễn Phúc Trăn ) và cho chúa Minh ( Nguyễn Phúc Chu ) chết được tặng Quốc Sư.
Hồ Quang Đại được thơ tại Miếu Ông của làng Nguyệt Biều. Ngài cũng được thờ tại miếu ngài Hồ tại làng Hương Cần và thờ tại đình chính làng Hương Cần và thờ tại đình chính làng hương Cần. Ngài còn được phong làm thành hoàng làng Hương Cần huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên.
Bài vị thờ Hồ Quang Đại tại Miếu Ông làng Nguyệt Biều :”Nhâm Thìn niên Thi Trúng Giám Sinh Thủ Khoa Thị Giảng Phụ Chính An Biên Phước Đức Quốc Sư Hồ Quí công Thần Vị”
Tại miếu ngày Hồ làng Hương Cần bài vị ghi: “ Nhâm Thìn khoa trực Thủ Khoa Phước Đức Tôn Thần”.năm Đinh Tỵ triều Khải Định bài vị sửa lại là: Dực Bảo Trung Hưng linh phò Bổn Thổ Thần Hoàng Hồ Qui công Tôn Thần”
Tại đình chính làng Hương Cần nghi  văn thờ Hồ Quang Đại ghi:” Bổn Thổ thành hoàng Hồ Thiện Phước Đức Quí Công”.
 Ngài Hồ Quang Đại lấy bà chánh thất Phan Thị Do sinh 7 con trai và 2 con gái sinh sống tại làng Nguyệt Biều con cháu chia 4 phái:
-        Phái nhất: Hồ Quang Tài
-        Phái nhì: Hồ Quang An
-        Phái ba: Hồ Quang Đôn
-        Phái tư: Hồ Quang Tằng
Ngài Hồ Quang Đại còn có bà thứ thất sinh 7 trai sinh sống tại làng Hương Cần Hương Trà Thừa Thiên hiện nay còn đủ 7 phái:
-        Phái Tống Hồ thỉ tồ là Hồ Văn Duyên
-        Phái Hồ Tống thỉ tổ là Hồ Tống Học
-        Phái Hồ Đức thỉ tổ là Hồ Đức Lang
-        Phái Hồ Đăng thỉ tổ là Hồ Đăng Văn
-        Phái Hồ Công thỉ tổ là Hồ Văn Nê
-        Phái Hồ Hữu thỉ tổ là Hồ Hữu  Đường
-        Phái Hồ Văn thỉ tổ là Hồ Văn Đệ.
Con cháu họ Hồ nhiều người hiển đạt.
·    tại Nguyệt Biều các ngài sau:
1.    Hồ Quang Đại Phước Đức Quốc Sư Đức Xuyên Tử
2.    Hồ Quang Ân tri phủ Ân Nghĩa Tử
3.    Hồ Quang Tuyên tri phủ Tuyên Đức Hầu
4.    Hồ Quang Đôn tước Đòn Minh Nam
5.    Hồ Quang Thanh tri huyện Tước Thuần Nam
6.    Hồ Quang Anh thư  Đội Trưởng Diễn Tài Bá
7.    Hồ Hữu Thẩm Bố Chánh Sứ An Sát Sứ Quản Nội Vụ Thẩm Thận Hầu.
8.    Hồ Quang Ngôn Tham Luận Ngôn Đức Hầu
9.    Hồ Quang Châu Tham Mưu Châu Thành Hầu
10. Hồ Quang trực Trực Thiện Hầu
11. Hồ Xuyên Quản vụ Thái Giám
12. Hồ Hữu Hoa Phó Quản Cơ
13. Hồ Thị Ý Nhi Cung nhân vua Thiện Trị mẹ công chúa Đồng Xuân
14. Hồ Thị Hoa cung nhân vua Thiện Trị
15. Hồ Xuân Bàng Đốc sự Thượng Hạng Nha Tài Chính Giám Sự Chuyên Môn Nha Thông Tin Trung Việt Nhà Cách Mạng dưới chính quyền đệ nhất Cộng Hoà.
16. Hồ Xuân Anh Thư  Ký Sở Thuỷ Lâm Huế. Trung Tướng quân đội Nhân Dân Việt Nam. Trưởng phái đoàn mặt Trận Giải Phóng Miền nam tham dự phái đoàn quân sự 04 bên tại Tân Sơn Nhấttrước chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Miền Nam. Đại Sứ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại Cộng Hoà An Độ Cu Ba.
 
·    CON CHÁU HỌ HỒ LÀNG HƯƠNG CẦN
1.    Hồ Văn Mai Chưởng Dinh Mai Đức Hầu
2.    Hồ Văn Chữ Chánh Đề Đốc
3.    Tống Hồ Thụ Đô Chỉ Huy Sứ Nguyên Ninh Hầu
4.    Tống Hồ Phái Đội Trưởng Phái Diễn Hầu
5.    Tống Hồ Tín Đội Trưởng Tín Thành Hầu
6.    Tống Hồ Ban Đội Trưởng Tước Ban Tài Hầu
7.    Tổng Hồ bảng Thứ Đội Trưởng Bản Trung Bá
8.    Tống Hồ Thị Đặng Hiếu Minh Hoàng Hậu
9.    Tống hồ Nhạc Thứ Đội Trưởng Nhạc Sơn Hầu
10. Tống Hồ Khánh Thứ Đội Trưởng Khánh Long Hầu
11. Tống Hồ Yến Trấn Biên Doanh Lưu Thủ Cai Cơ Yến Dực Lầu
12. Tống Hồ Hoà Đội Trưởng Tước Hoà Khánh Hầu
13. Tống Hồ Giao Vọng Các Công Thần Cai Cơ Giao Đức Hầu
14. Tống Hồ Đạm Vọng Các Công Thần Giám Quân Trung Dinh Tước Tuấn Nghĩa Hầu.
15. Tống Hồ Đàm Cai Đội Tuấn Vũ Hầu
16. Tống Hồ Đạo Cai Đội Tước Đạo Đức Hầu
17. Tống Hồ Anh Cai Cơ
18. Tống Hồ Thanh Thiếu Sư Tước Tôn Nghĩa Hầu
19. Hồ Công Kính Tước Kính Đức Hầu
20. Hồ Tống Dánh Thượng Tướng
21. Hồ Đăng Phong Tham Tri Cử Nhân Hương Thí
22. Hồ Văn Thông Quản Cơ Cử Nhân Võ.


Hồ Xuân Thiện (Theo http://hohovietnam.vn )

 

hotinhtam

gởi Hồ Văn Tâm

Chào Hồ Văn Tâm!

Nguyên gốc họ Hồ là ở tỉnh Chiết Giang Trung Quốc do cụ tổ Hồ Hưng Dật bất mãn với triều đình bỏ sang Việt Nam sống. Cụ Hồ Hưng Dật bằng tài năng và Đức độ mà trở thành thứ sử Giao Châu. Con cháu cụ sau này có vua Hồ Quý Ly. Khi Hồ Quý Ly thất bại dòng họ Hồ ở Hương Bào Đột Quỳnh Lưu Nghệ An phải tứ tán khắp nơi. Một chi nhánh lớn ra Thanh Hóa lập nghiệp còn thì chủ yếu di vào phương Nam. Nhiều chi nhánh thậm chí còn phải đổi họ như vua Quang Trung là Hồ Thơm mà phải đổi thành Nguyễn Huệ.

bên trải là chú Hồng Vũ bên phải là thầy giáo dạy nhạc Mai Minh Thiện- nguyên là sinh viên của chú

bên phải là anh Võ Đức An- nguyên là sinh viên của chú

đường vào nhà chú Hồng Vũ

chú Hồng Vũ và họa sĩ Đặng Can

chú Hồ Tịnh Tâm

tên thật của chú là Hồ Xuân Tâm

Hồ Văn Tâm

Chào chú Tâm

Cháu tên là Hồ Văn Tâm.thuộc tộc hồ ở Đà Nẵng ba của cháu là tộc trưởng một tộc Hồ nhỏ ở Đà Nẵng. Qua tìm hiểu bô đĩa dòng tôc họ Hồ do bác Hồ HUY-Mai linh cấp tặng cháu được biết nguồn gốc Hồ Việt Nam của mình là Huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An. Nhưng cũng có một số ý kiến cho rằng tộc Hồ nguồn gốc là ở Thanh Hóa. Như vậy theo chú đâu là ý đúng. Chào Chú và chúc sức khỏe chú thật nhiều.

hotinhtam

Gởi Hồ Văn Phong.

Chú chào Phong!

Trên blog này của chú có trang mục HỌ HỒ NƯỚC VIỆT nhưng chú chỉ mới đưa lên được 7 bài viết thôi. Nếu phong có thông tin gì mới về họ Hồ thì gởi comment cho chú nhen!

Chúc Phong luôn vui khỏe!

Ho Van Phong

Cháu có vài lời nhé.

Con chào chú

Con cũng là người con mang dòng tộc họ Hồ nhưng ở Bình Định vui và rất tự hào về dòng họ mình hiện tại con cũng có bô đĩa dòng tôc họ Hồ do bác Hồ HUY-Mai linh khởi xướng. Co thể những dòng mail này mang hơi ấm đến những người con Họ Hồ trẻ tuổi như con rất vui khi được đọc trang blog của chú.

Chúc chú sức khỏe.
Hồ Văn Phong

hotinhtam

Bổ sung tư liệu từ Yahoo Hỏi & Đáp

Theo truyền thuyết họ Hồ là con cháu Ngu Thuấn; con Ngu Yên là Vĩ Mãn được Chu Vũ Vương phong cho ở đất Trần gọi là Hồ Công sau dùng chữ Hồ làm tên họ. Con cháu họ Ngu (họ Hồ) sinh sôi nảy nở qua nhiều trăm năm trên đất bên Tàu.
Đến thế kỉ thứ 10 khoảng năm 907 đến 959 Hồ Hưng Dật người Chiết Giang bên Tàu di cư sang cổ Việt đến sinh sống tại làng Bào Ðột huyện Quỳnh Lưu Diễn Châu (Nghệ An).
Hồ Quý Ly là cháu đời thứ 15 của Hồ Hưng Dật phế truất vua Trần tự lên ngôi vua năm 1400. Hồ Quý Ly có một số chính sách tốt nhằm phục hưng đất nước nhưng do lòng người không thuận nên năm 1407 mất nước vào tay nhà Minh.
Cháu đời thứ 27 của Hồ Hưng Dật có 2 người mà ai cũng biết là vua Quang Trung Nguyễn Huệ (Hồ Thơm) và bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương.