mãi mãi với An Giang- htt

Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4

Cuối thập kỷ 80 thế kỷ trước tôi may mắn được đi thực tế viết nhạc vùng Thoại Sơn. Đồng bằng phẳng lì bỗng nảy mầm xanh núi từng cụm ngay giữa vựa lúa trung tâm của cả đồng bằng Châu Thổ. Núi lớn nhất có tên là núi Sập. Rồi núi Cậu núi Chóc núi Tượng núi Ba Thê. Tên gọi nào cũng ấn tượng. Như núi Sập chẳng hạn.

MÃI MÃI VỚI AN GIANG
Tùy bút của Hồ Tĩnh Tâm

 

Đã bao nhiêu lần trở lại An Giang tiếng gọi thẳm sâu trong tâm cảm vẫn cứ rung lên một tình duyên không dứt được. Một cõi tâm linh. Một cõi đi về. Một tình yêu từ hơn 30 năm trước.

 

BÚNG BÌNH THIÊN

Tháng 7 năm 75 từ Chợ Mới tiểu đoàn tôi (D1- E5- F8) được lệnh hành quân lên trấn giữ biên giới tại búng Bình Thiên. Hết xe cơ giới tới tàu đò rồi đi bộ tổ chính trị của tôi tới nhà má Chín vào lối 10g00 tối. Má có tên là Chín Kìm sống với đứa cháu nội tên Mùi. Mùi lớn con cồ cộ đẹp nhưng hơi tồ một chút.

Thấy chúng tôi mệt mỏi bà Chín biểu cháu gái xuống bếp nhúm lửa nấu nồi cháo. Lửa hực lên gương mặt của Mùi đẹp lìm lịm như trái chín. Vậy mà D trưởng lệnh cho tôi phải đi kiểm sơ bộ tình hình K bộ. B trinh sát trọ mấy nhà mấy nhà đều nổi lửa nấu cháo. B hỏa lực trọ mấy nhà mấy nhà cũng nổi lửa nấu cháo. Cả B thông tin cũng vậy. Rồi bên tham mưu tác chiến bên y tế bên tài vụ. Dường như cả ấp K bộ đóng quân bà con đều thức. Khi tôi trở về thì Phùng Gia Thặng và Trần Oanh đã ngủ. Chỉ có bà Chín Kìm còn thức. Bà nói: “Thằng Ba bây húp chén cháo cho ấm. Mùa này sương giăng mịt mịt dầm sương nãy giờ coi chừng trúng gió”. Chỉ cháo trắng với dĩa cá lòng tong kho mặn vậy mà nhớ đời.

Sáng ngày tôi dậy sớm. Ai dè Mùi còn thức trước tôi. Cô đã xách đầy mấy lu nước lắng phèn. Công việc khiến má cô ửng lên. Vẫn đẹp như lúc cô ngồi bên bếp lửa đêm qua. Đó là ấn tượng đầu tiên của tôi về Mùi cô gái mồ côi cả cha lẫn mẹ sống với bà ngoại đã trên tám mươi tuổi.

Trong tổ chính trị ba người không hiểu sao bà Chín Kìm rất thương tôi. Mỗi khi tôi đi công tác xa về bao giờ bà cũng dành sẵn một thứ gì đó cho tôi ăn tôi uống. Có lần bà nói: “Bây đánh chác khổ cực mấy năm trời giờ hòa bình lo lấy vợ cho ông bà ở nhà có cháu ẵm bồng”. Rồi bà nắm tay tôi nói rất thật tình: “Cháu gái tao hằng hà mấy đứa bây chịu đứa nào tao gả không đứa đó. Tụi nó khá cả chỉ con Mùi là khổ”. Tôi biết bà Chín muốn gá nghĩa cô Mùi cho tôi nhưng rõ ràng là không thể được. Bởi lẽ bấy giờ tôi đang làm công tác chính trị lâu lâu lại phải giải quyết chuyện tình cảm lẹo tẹo của bộ đội trong tiểu đoàn. Lính tráng thoát thân từ chiến trận nay đóng quân trong nhà dân thể nào chẳng sanh chuyện này chuyện nọ. Tôi mà dính với Mùi thì còn nói được ai.  Khổ vậy! Chỉ bởi cái chức trợ lý chính trị mà tôi phải tập làm Phật. Nhưng mà Mùi vẫn cứ đẹp vẫn cứ như trái xoài thơm lừng lựng.

Thế rồi đùng một cái dì Tư con bà Chín khều tôi xin gặp riêng khóc mếu máo: “Mấy anh đừng kỷ luật anh Hải tội nghiệp ảnh”. Hải là y sĩ đóng quân trong nhà dì Tư con gái bà Chín Kìm. Anh quê Thanh Hóa vào B2 từ năm 68 lúc đó tuổi lẻ lẻ ngoài ba chục. Dì Tư con bà Chín tuổi xồn xồn bốn mươi chồng là lính thiết giáp sư 9 chết trận nhưng vẫn kịp để lại cho vợ ba đứa con gái tàng tàng tuổi mười sáu mười tám hai mươi. Như người ta thì phải bập vào mấy cô thiếu nữ đằng này Hải lại chun mùng bà giá hồi xuân. Che mắt ai chứ che mắt sao được bà mẹ chồng thường đêm mất ngủ. Rồi một đêm nhậu xỉn quá Hải chun nhầm mùng bà già. Vậy là tá họa bởi bả kêu trời dậy xóm. Dẫu binh cách mấy thì kỷ luật vẫn là kỷ luật. Hải bị điều về trại thu dung.

Biết chuyện bà Chín phàn nàn: “Con tao tao không tiếc bả tiếc gì ngang xương không biết. Tội nghiệp thằng đó sống chết mấy năm trời bởi chị sui tao ghen giùm hồn ma con trai mà khổ! Bây không xin được cho nó hay sao?”. Cũng bởi chuyện này mà tôi càng phải lánh Mùi càng phải khắc kỷ với chính mình. Nhưng ràng ràng Mùi là trái xoài thanh ca đang chín.

Tôi nhớ lần một mình xuống tắm dưới bến sông khi trở lên nghe bà Chín nói: “Thằng Ba bây giúp con Mùi lột cái dây lưng ra coi”. Thì ra Mùi đã lấy cái nịt Liên Xô của tôi tò mò thắt vào lưng. Sau đó cô tìm cách rút ra nhưng càng rút cái dây lưng càng thít lại; là bởi thứ dây lưng này phải kéo vào mới mở ra được. Buộc lòng tôi phải ra tay. Nghĩa là tôi phải thò tay vào bụng Mùi để lột cái dây lưng quái quỷ ra. Ngặt nỗi cứ tay tôi chạm vào bụng là Mùi bị nhột phát cười rung cả người. Thành thử chỉ một động tác đơn giản mà tôi phải loay hoay tới gần chục phút.

Lần khác khi Trần Oanh và Phùng Gia Thặng đi công tác ở E bộ tôi ở nhà đột ngột lên cơn sốt ác tính người lúc nóng lúc lạnh tưởng chừng sắp chết tới nơi. Tôi ú ớ gọi bà Chín nhưng hình như tiếng gọi của tôi chỉ cất lên trong tiềm thức;  bởi vì tôi nhận rõ mặt trời đã lên cao ngoài bến sông cũng như tôi nghe rất rõ tiếng bà Chín đang xào nấu thứ gì đó dưới bếp. Điều này khiến tôi run sợ thật sự. Đồng đội tôi đã có người bị sốt rét ác tính giật một đêm mà qua đời vì không ai hay biết. May cho tôi đang trong cơn hoảng loạn tôi nghe rất rõ tiếng bà Chín gọi cháu gái. “Mùi à bây coi thằng Ba có làm sao không mà giờ này chưa thức”. Liền đó tôi thấy Mùi bước tới đứng bên giường của tôi. Cô cất tiếng gọi: “Anh Ba sáng rồi anh Ba!”. Không nghe tôi ừ hử gì cô nói: “Hồi hổm anh Ba thức khuya chắc còn mệt để ảnh ngủ nội ơi”. Tồ ơi là tồ. Bội đội có ai lại ngủ tới bửng mặt trời chưa thức. Làm ơn rờ trán tôi này Mùi ơi. Tiếng bà Chín nói như gắt: “Mầy cuộn mùng lên coi thử thằng Ba có làm sao không. Rờ trán nó coi!”. Mùi chạm một ngón tay lên trán tôi rồi phát ra la chỏi lỏi: “Anh Ba… ảnh… ảnh nóng hầm hập như cục than nội ơi!”. Nghe đánh xoảng một tiếng. Liền đó là tiếng dép của bà Chín lê lạch xạch từ dưới bếp lên. Rồi tiếng bà Chín nói như ra lệnh: “Nó sốt rét. Bây vô buồng lấy thêm mềm ra rồi chạy ù qua kêu thằng Châu y tá. Lẹ con!”.

Chuyến đó tôi chỉ lên cơn nóng lạnh một ngày nhưng ba ngày sau chân vẫn run lẩy bẩy không đi được. Mỗi lần mắc đi cầu bà Chín phải sai cháu gái dìu tôi từng bước; rồi lại còn bắt cổ phải canh chừng dẫn xuống. Khi tôi khỏe hẳn bà Chín nói: “Hồi đó ông xã của qua trốn nhà theo cách mạng sống mị mị trong đồng biền biệt mấy năm trời. Chỉ tới khi đổ bịnh mới mò về nhà. Một tay qua lo hết ráo. Lại còn bảy đứa con. Túng cùng qua theo người ta đi buôn á phiện. Biết là sái nhưng không làm vậy đào đâu ra tiền nuôi sắp nhỏ. Chiến tranh thì chiến tranh nhưng sống vẫn cứ phải sống. Ổng đe nẹt mấy lần qua mới bỏ không buôn nữa”.

Bà Chín Kìm là vậy. Làm sao mà tôi quên được. Tiếc là sau này mấy cuốn nhật ký của tôi do bất cẩn mà bị mối ăn mất. Thành thử tôi không thể nhớ chính xác bà Chín họ gì ở ấp nào dọc theo rẻo đất cặp dài bên Búng Bình Thiên.

Thế rồi tôi được điều về C2 nắm một trung đội tiền duyên. Chẳng là lúc bấy giờ bên kia biên giới vẫn còn tàn quân Sài Gòn chạy qua lẩn trốn. Vì vậy đêm nào tôi cũng phải lặn lội kiểm tra các vọng gác. Thức đêm thức hôm điều đó xúi cô Út có cảm tình với tôi. Cô Út sống với cha mẹ già và người anh Trai chạy xe ôm. Cô trắng như bông bưởi đẹp một cách hồn hậu. Anh trai cô tên Cường chơi ghita classique rất điệu nghệ. Chính nhờ anh ta mà tôi được làm quen với các bản nhạc như: Santa lucia Romeo and Juliette Love story… Lúc này là lính chiến tôi không còn bị ràng buộc nhiều bởi cái mạc chính trị “lãng xẹt” trước đây. Nhưng oái oăm thay Sáu Cường đang không lại khoái tôi lại tuyên bố oang oang trong một bữa tiệc rằng ảnh kết tôi làm anh. Vậy thì còn nước non gì.

Búng Bình Thiên với tôi từ đó luôn trở thành ám ảnh những cuộc tình không có thật.

Nhưng mà… An Giang đâu chỉ có búng Bình Thiên.

 

NÚI XUỐNG ĐỜI LINH VẬT

Cuối thập kỷ 80 thế kỷ trước tôi may mắn được đi thực tế viết nhạc vùng Thoại Sơn. Đồng bằng phẳng lì bỗng nảy mầm xanh núi từng cụm ngay giữa vựa lúa trung tâm của cả đồng bằng Châu Thổ. Núi lớn nhất có tên là núi Sập. Rồi núi Cậu núi Chóc núi Tượng núi Ba Thê. Tên gọi nào cũng ấn tượng. Như núi Sập chẳng hạn.

Truyền thuyết đồn thổi rằng ngày ấy vùng Thoại Sơn có một tiên ông ba vợ vợ nào cũng đẹp như bông sen bông súng. Như người ta thì ở nhà hủ hỉ sum vầy tận hưởng nhan sắc đằng này tiên ông lại ham rong ruổi chơi bời đây đó. Máu giang hồ lãng tử xui khiến ông bỏ nhà ngao du thiên địa. Đến khi lủng túi không còn một cắc lận lưng mới hụp hửi trở về. Ba bà giả bộ ngoảnh mặt ngó lơ ra điều kiện buộc lang quân phải cùng họ thi đắp mỗi người một quả núi. Nếu núi của tiên ông đắp xong đúng kỳ hạn mà to hơn thì ông được nối lại tình xưa với họ. Tiên ông gật đầu chấp thuận xắn tay áo vào cuộc. Nhưng chứng nào tật đó tiên ông vừa đắp núi vừa khề khà chung trà chén rượu. Chừng hết kỳ hạn nhìn thấy ngọn núi của mình còn dang dở tiên ông xấu hổ vung trường côn giáng một đòn cho đổ sập xuống gãy làm mấy ngọn. Đời sau gọi núi ấy của tiên ông là núi Sập. Lại kể thêm rằng bởi giận dữ vì thua cuộc trong con bực dọc tiên ông nạy một khối đá lớn dang tay chọi thật lực vào núi của ba bà. Hòn đá văng ra ườn mặt chình ình một đống dân gọi là núi Chọi. Còn núi Tượng là hòn núi hình tượng hền hệt như con voi phục. Núi Ba Thê hay Vọng Thê là núi tiên ông ngồi dựa lưng nhìn vọng ba bà một cách hối tiếc thời vàng son cùng nhan sắc.

Đó là truyền thuyết. Nghĩa là do dân tình thêu dệt ra truyền đời cho con cháu về tích đất của mình. Khi tôi theo nhạc sĩ Mặc Tuân đến xã Ba Thê mới biết Ba Thê từng là căn cứ chống Mỹ một thời. Có lẽ do hoàn cảnh xa nhà kháng chiến nên mấy ông Ủy ban đàng mình mới đặt tên mới  là Vọng Thê cho đỡ nhớ vợ con ở nhà. Chứ sự thật từ thời nảo thời nao khi đờn bà còn nắm quyền cai quản giữa vùng đồng đất ngút ngát mỏi cánh cò cánh vạc này bà con Khơ Me đã tụ về sinh sống nên có truy tích chắc phải gọi núi Ba Thê là núi Bà Thê mới đúng.

Mà thôi đã là Thoại Sơn thì thiếu gì huyền thoại về núi. Được cử đi viết nhạc nhưng tôi lại đứng ngơ ngẩn hàng giờ trước bia đá Thoại Ngọc Hầu trong đình Bộ Công. Thật khó mà tin vào thời kỳ đầu TK 19 (1816) chỉ với cây phảng lưỡi leng vậy mà Ông Thoại vẫn đôn đốc dân binh đào được một con kinh thẳng vun vút tới 37 cây số. Kinh ấy mang tên ông gọi là kinh Thoại Hà. Đó là con kinh rửa phèn thau chua vực dậy cả một vùng lúa xanh mơn như tóc thì con gái. Trải thời gian thăng trầm dâu bể mãi đến năm 1992 người An Giang bằng chí dời non lấp bể mới hè nhau đắp thông con lộ nối liền Ba Thê – Tân Phú. Lúa trùng trùng trỗi dậy khúc huy hoàng ca của lúa. Và cũng nhờ có con lộ này mấy anh em đi tìm giai điệu chúng tôi mới đến được trung tâm của nền văn hóa Óc Eo. Mắt và tay được chạm vào lịch sử Phù Nam xa thăm thẳm. Tim trong ngực đập rộn lên tiết tấu của đồng bằng nổi lên từ biển. Tôi cầm cái linga tôi sờ cái jony tưởng như chạm vào thịt da còn hôi hổi ấm nóng.

Nhớ năm 1979 tôi về thực tập Sư phạm tại trường cấp 3 Long Xuyên- ngôi trường nằm trên con phố chạy từ Nhà thờ lớn xuống bến phà qua Cao Lãnh. Giáo viên hướng dẫn của tôi là cô Tôn Thị Dự cháu gọi Chủ tịch Tôn Đức Thắng bằng ông. Cô Dự mới đầu chỉ giao cho tôi dạy một vài tiết ở lớp 11D. Về sau khi tôi đã khá hơn cô giao luôn cho tôi lớp 12B. Vậy là An Giang với tôi bắt đầu một cuộc sống khác. Các em lớp 11D quấn quýt với tôi như anh em. Chúng rủ tôi đi đá banh đi xem phim đi picnic. Chúng bày ra đủ trò. Có lần chúng đánh bẫy tôi và cô giáo Bích Nga (lớp Sinh K2- quê ở Châu Đốc) bằng cách mời chúng tôi qua cù lao Ông Chưởng. Ấy là khi chúng tôi phải dùng xuồng nhẹ vượt qua một con Kinh đang lúc nước cường. Khi còn cách bờ bên kia vài mét mấy đứa con trai con gái hè nhau “một..  hai… ba… bà con xuống nước”. Chiếc xuồng lắc lắc vài cái rồi lật sấp. Chúng nó bầy vịt trời giỡn nước bơi ào ào vào bờ. Chỉ còn một mình tôi buộc lòng phải trồi hụp dìu Bích Nga trong chuỗi chuỗi tràng cười trong văn vắt của đám vịt trời liến khỉ. Tôi nhớ phía đầu cù lao có một trảng cát mịn thoai thoải ở đó lũ vịt trời con trai con gái đề nghị cánh sinh viên thực tập chúng tôi phải đá banh kình với chúng đặng phân xử phe nào phải nấu cơm trưa.

Hồi đó tôi tồng tộc sức trai lên lớp là cháy hết mình với bài giảng đến nỗi có hôm cổ họng khàn đục tới khào khào như vịt nước. Kim Tuyến đưa cho tôi một gói giấy. Bên trong có chiếc lá sống đời dài hơn gang tay mặt lá xăm dòng chữ: “mưa vẫn mưa rơi trên tầng tháp cổ”. Ôi chao! Đã mưa rồi lại mưa rồi lại mưa mà lại mưa rơi trên tháp cổ. Buồn tới nao lòng. Vậy mà lòng tôi ấm áp biết bao. Nhớ có hôm vào tiết giảng thơ lớp 12B tôi hỏi liền hai học sinh đều không thuộc bài. Vậy là tôi mời Kim Tuyến lớp trưởng. Em cũng không trả lời được câu hỏi. Buồn quá tôi lắc đầu: “Có vậy mà cũng không biết sao?”. Cô gái đang tuổi xuân thì phơi phới nghe tôi nói xong liền đổi thế đứng nghiêm ngay ngắn: “Thưa thầy không phải em không biết mà là em chưa biết”. Tôi mời em ngồi xuống trịnh trọng ghi vào sổ một điểm 10 cho câu nói thông minh đầy bản lĩnh. Cái gì rồi cuối cùng con người cũng sẽ biết với ý chí và bản lĩnh của mình.

Lúc đến Thoại Sơn tôi đã may mắn được bật mí cho biết An Giang là tỉnh đầu tiên thời bao cấp dám xóa tập đoàn máy kéo khi mà cả Miền Nam đang say sưa báo cáo công tác tập đoàn hóa nông nghiệp. Đồng chí Trường Chinh bay từ Hà Nội vào nói: “An Giang làm thế này chủ nghĩa xã hội sẽ đi về đâu?”. Chủ tịch tỉnh bấy giờ đã trả lời” “Thưa Tổng bí thư chủ nghĩa xã hội sẽ đi vào trái tim nhân dân”.

Quả đúng như vậy. Cả một vùng quê đá Thoại Sơn đang rùng rùng chuyển động. Lúa dàn thế trận trùng trùng của các câu lạc bộ 5 triệu tấn. Rừng đước xanh ngút ngàn như giai điệu bản tình ca hò hẹn.

Đêm trăng ấy có dễ đã hơn mười giờ tối tôi đang ngồi đọc lại cuốn “Aivanhô” trên lầu thốt nghe bổi hổi tới nao lòng tiếng kèn mélodia thổi giai điệu bản Puoppé de cire Puoppé de sond. Té ra là Kim Long cùng mấy đứa bạn trai đến trường “dụ” tôi bằng âm nhạc. Tôi trôi trong dòng chảy thanh âm mịn mượt của An Giang từ đó.

 

PHỐ NÚI GỌI VỀ

Năm tháng nối nhau ươm mầm cho mơ ước của đời người.

Sau này tôi nhiều lần trở lại An Giang. Có lần xe chết máy giữa đồng trống vào lối giữa trưa hừng hực nắng. Châu Đốc đã qua mà Tri Tôn chưa tới. Mặt trời nhiệt đới thiêu đốt tới cùng cực con khát. Không một bóng cây bên đường nên tất cả hành khách đều vạ vật ngủ gà ngủ gật. Chợt tôi nhận thấy một bé gái quảy hai  quảy nặng nước thốt nốt lội băng qua cánh đồng. Trời ạ! Mỗi ống nước ngọt lịm dài hơn hai gang tay chỉ ngàn đồng trong khi chai Lavie nhỏ xíu mua tại bến xe phải đắt gấp bốn lần.  Nó đâu phải là nước. Nó là nước tinh khiết của trời đất mà “nhà máy” thân cây phải trên 10 năm mới bắt đầu lọc được cho đời.

Người An Giang luôn thật như đồng đất An Giang.

Lương Phi bấy giờ đang mùa khô hạn. Dù vừa phải vượt qua quãng đường gần cả trăm cây số trong lầm lầm cát bụi lúc tới nơi cũng chỉ được đãi một thùng nước tắm kiểu xà tón. Vậy mà lên tới Ba Chúc nước máy chảy ào ào. Anh bạn nhà thơ Trần Thế Vinh mượn cho chiếc honda chúng tôi tha hồ dọc ngang miền Bảy Núi. Leo núi lội đồng vào chùa lên rẫy. Mắt tôi chạm vào sức sống những cung đàn của đá. Tầm vông đang mọc lên. Xoài nhãn đang mọc lên. Rồi cả trầm tóc cũng đang mọc lên. Tất cả đang mọc lên từ ong ong đá núi. Có kể cũng không thể nào hết được.

Thương quá là hòn Thủy Đài Sơn đẹp như hòn non bộ điểm xuyết cho đồng bằng trải dài ra vô tận. Chúng tôi ngồi dưới bóng rợp bồ đề thiền cho chính sự tỉnh lặng của bản thân về cuộc sống. Cánh tay An Giang vươn tới nơi này từ lúc nào với những dòng kinh xẻ ngang xẻ dọc. Tiếc cho đồng đội tôi nằm trong vồ đá Ma Thiên Lãnh. Mai này biết đâu bên nấm mộ vùi sâu hài cốt của các anh trong hang một tượng đài về những người canh trời giữ núi sẽ mọc lên. Điện Trời Gầm ở trên kia. Mỗi ngày theo dòng chảy thời gian từng đoàn người vẫn đến với các anh đến với dọc dài Lương Phi trung dũng.

Đồi Tức Dụp rồi núi Cấm. Mỗi ngọn núi đều chấm vào đồng đất An Giang một bản anh hùng ca chiến trận. Đá từng bị nung bị đốt bằng bom xăng bom napan. Đá từng bị nghiền ra bằng bom tấn và đạn pháo. Không chỉ cây rừng chết cháy mà cả những con cà khu hiền lành cả những con đại bàng núi oai dũng cả những con rắn hổ thiêng linh… tất cả cũng bị tội ác của kẻ thù tìm cách cướp đi sự sống. Nhưng sức sống diệu kỳ làm nên sự trường tồn của An Giang thì kẻ thù không thể nào lấy được.

Tôi đã đến núi Nổi Tân Châu. Gọi là núi mà chỉ lùm lên như vú đất. 2500 trước một con tàu gốm sứ và tơ lụa đã đến nơi này. 2500 năm sau thế hệ những chàng trai những cô gái An Giang cũng đến nơi này nhưng là để tắm rợp tình yêu trong màu xanh cây lá. Xung quanh núi Nổi không còn những rừng tre ken dày như vây bủa. Nhưng những tên đất thì vẫn cứ ruột rà như máu thịt. Ô Răng. Ô Bà Cả. Ô Lôi Thôi… Mỗi Ô là mỗi làng mỗi dáng vóc miền Châu Thổ trong thời đại mới. Thử hỏi khắp xứ mình đây có nơi nào dân tình đủ hài hước đặt tên làng là Lôi Thôi như ở Ô Lôi Thôi này. Qủa là dân An Giang không xê một nét.

Anh Trí tặng chúng tôi mỗi người một cái cà vạt Tân Châu để chúng tôi thắt lụa vào ngực mình mà đi tới. Song sóng sông Tiền sông Hậu song sóng tình đời trải ra vô cùng vô tận. Những bè cá dập dềnh trên sóng nươc. Những bờ bãi ngọt lịm mật phù sa. Những xóm làng đen huyền mắt biếc. Những con đường xuôi về miền thương nhớ.

Từ Long Xuyên Kim Tuyền mail cho tôi nói rằng em sắp qua Mỹ làm luận án thạc sĩ. Vậy đấy. Hôm qua là thù hôm nay là bạn. Với dân tộc này với miền quê đau đáu thương yêu này cuộc sống thật là đơn giản. Chúng ta sống và chúng ta đi tới. Chúng ta đi tới bằng tư duy từ ngay trên đồng đất của mình. Và không chỉ ở Việt Nam đâu từ những gì đang trỗi dậy mãnh liệt ở nơi này bạn bè khắp nơi trên trái đất đang được chứng kiến sự bừng sáng của tư duy An Giang trên bước đường vươn lên hạnh phúc.

Một buổi chiều tôi đã đứng lặng trong vườn tượng Châu Đốc. Hoàng hôn nhuộm tôi tím lịm một tình yêu xốn xang tới nghẹn ngào muốn khóc.

Mới đó mà đã 30 năm.

Cột mốc thời gian ghi thêm một dấu ấn tình đời.

 

                                                                                  H.T.T.

Database error

ERROR From DB mySQL

DB Error: Database query failed!
» Error No: 1062
» Error detail: Duplicate entry '11700399' for key 'PRIMARY'
» Query: INSERT INTO bd_estore_online_users (id,store_id,sid,uid,username,usertype,ip,last_updated,last_page) VALUES (NULL,'1022','bgjsm48jimv6uoobr2k8prlgs3','0','Guest','0','54.156.85.167','2018-08-14 13:34:04','/a143049/mai-mai-voi-an-giang-htt.html')