tôi say- trích phần thứ 13 TT "Ông Bảy Ngật" của hotinhtam

t 10Tối nay tôi đã bỏ công ngồi đọc chỉnh lý và sửa lỗi chính tả lần cuối cho tập truyện "Ông Bảy Ngật". Lạ thiệt càng đọc chính tác phẩm của mình tôi càng nhớ lại những kỷ niệm xưa cũ với ông già Nam Bộ ấy với những chàng trai ở làng nghèo ấy; nhưng tôi thề rằng bây giờ mà bạn bè có ai về lại nơi ấy chắc chắn sẽ khó mà hình dung ra nỗi những gì thuộc về một thời đã qua. Thời ấy chàng nhân vật trẻ của tôi cũng say ông Bảy Ngật như tôi. Chúng tôi vẫn thỉnh thoảng ngồi nghe ông Bảy đờn kìm đờn cò xàng xê cống líu. Thức với chúng tôi là chai rượu trong veo trong vắt lắc một cái là sủi tăm sùng sục. Chính nơi đây đã mở mắt cho tôi nhiều bài học về bưng biền về bùn sinh Nam Bộ. Hình như tôi cũng phải lòng một hai cô gì đó nhưng tôi đã ngu ngốc mà không dám khẳng định mình. Tôi là người đi viết sử. Xã cấp cho tôi một cái phòng ngay trong Ủy ban. Lại có cả một bà góa xồn xồn hàng ngay lo cơm nước cho tôi. Oách thế mà lại đi tỏ tình với thôn nữ thì bậy quá. Nhưng nhớ lại thì lại nao nao lòng dạ. Thôi thì post lên đây phần thứ 13 TT "Ông Bảy Ngật" ngõ hầu bạn đọc có thể hiểu lòng tôi với nơi tôi từng thương yêu như máu thị chính mình.

13. TÔI SAY

 

Hường đi rồi tự nhiên tôi thấy cuộc đời sao mà trống vắng tới lạ lùng.

 

Mỗi lần dừng chân bên Vàm Gió chỉ thấy sóng nước cồn cồn minh mang cô quạnh. Gió hù hụ thở dài sườn sượt. Lau lách xạc xào héo hắt. Bóng rợp cây da tỏa  xuống nỗi buồn u ẩn. Cánh đồng hun hút thăm thẳm tới lạnh lùng.

 

Buồn qúa tôi đem lưới ra đồng thổi gà nước.

Cứ sập chiều xuống là tôi quảy lưới ra đồng lựa chỗ cắm cọc giăng lưới rồi nằm khểnh trên bờ đất hút thuốc khan mình ên. Khi màn đêm giăng mắc kín đồng tôi móc cái tu huýt ra uể oải thổi vào không trung những tiếng túc túc buồn bả. Tiếng tu huýt vang lên từng chặp ngắn lan tỏa trên cánh đồng trời vời vợi. Một vài con chim trống tức tiếng kêu sà xuống bị dính lưới nằm giãy đành đạch. Khốn khổ cho những con trống dại khờ mỗi đêm chúng chết vì tiếng túc túc của tôi không dưới hai chục con. Tôi đem những con trống ngu khờ ấy ra chợ bán tống bán tháo được bao nhiêu thì được.

 

Chán thổi gà nước tôi theo xuồng đi câu tôm.

Câu tôm phải lựa những đêm tối trời mà đi. Một chiếc xuồng một ngọn đèn chai một túi mồi một cây vợt tôi đi ròng rả theo con nước. Những con tôm càng xanh bắt lửa đèn sáng lên ong óng. Chúng tham mồi tới mức có lúc cả mấy con bu đen đỏ quanh miếng cùi dừa tôi chỉ việc nhè nhẹ nhấc dần lên rồi thò vợt xuống mà múc lên. Tiếng tôm búng càng nghe tanh tách trong cái giộng tre buộc cặp bên be xuồng. Cứ như vậy cặp theo những dòng kinh tôi mãi miết đi theo từng con nước.

Một buổi sáng tôi cặm xuồng bên hàng bần chát cặp mé cù lao Mây bỗng nhìn thấy hai vợ chồng nhà thuyền chài đang sì sụp khấn vái trên chiếc xuồng câu. Thấy lạ tôi nhổ sào bơi xuồng ra coi. Trời ạ! Hai vợ chồng họ dính lưới quăng một con cá hô bự trảng. Con cá không hề quẫy đạp nằm im khe trong lưới. Tôi tiếp vợ chồng họ ghị con cá vô bờ. Con cá hô ấy nặng gần hai trăm ký xả thịt đem bán được hơn hai cây vàng. Ấy là con cá lớn nhất mà tôi được nhìn thấy trong đời ngoại trừ những lần nghe ông Bảy Ngật kể về một thuở xa xưa dân hạ bạc dùng lưới quăng bện bằng dây gai săn bắt cá hô cá đao cá mập trên sông Tiền sông Hậu.

 

Rời vàm Trà Ôn tôi trở về vàm Gió.

Vàm gió vẫn minh mang nỗi buồn sâu thăm thẳm. Mùa chướng những con sóng lưỡi búa cồn lên bựng bựng. Miễu cô Chín Ngọt cô quạnh giữa miên man gió chướng thổi hù hụ buồn bả tới rạc người.

 

Tiền bạc không làm nguôi được nỗi nhớ. Tôi xoay sang học ngón đờn kìm của Bảy Ngật. Hò xang xê cống líu. Bốn cung ố ái hỉ nộ hiện dần dưới những ngón tay của tôi. Lúc đầu còn non nớt chập chững nhưng lần hồi cũng thành bài bản.

 

Đang khi tôi học đờn mỗi ngày mỗi tấn tới bỗng lù lù ở đâu hiện ra ông thầy nò dáng dấp rất tiên ông đạo cốt.Té ra ông thầy nò này là bạn thuở thiếu thời của Bảy Ngật phiêu bạt xa quê đi làm ăn đã mấy chục năm nay. Vậy là việc học đờn của tôi phải dừng lại bởi vì tôi không còn say học đờn nữa tôi xoay ra say nghề nò mà Bảy Ngật rỉ rả rót vào tai tôi suốt mấy ngày ngồi nhậu rượu la đà ngoài mé sông.

Hai bác cháu tôi hùn hạp mua cây mua tre mua sậy về đóng nò. Cái nò của bác cháu tôi mở hoác miệng hình chữ V dài cỡ hơn hai trăm mét. Bầu thả bầu rút bầu bắt bầu nào cũng được gia cố công phu chắc chắn. Phần hom và phần nền thì được ông thầy nò chú tâm sửa đi sửa lại rất tỉ mẩn.

 

Hôm khởi công dựng nò ông thầy nò cùng bác cháu tôi và mấy người thợ đợi chiều xuống mới giết gà đem ra bờ sông cúng tổ. Chờ khi đêm buông bãng lãng ông thầy nò mới xõa tóc lặn xuống sông hì hụi lặn lui lặn tới gần hai tiếng đồng hồ. Rồi từ đó suốt sáu ngày liền đêm nào ông thầy nò cũng lặn xuống sông. Tới ngày thứ bảy có hai đệ tử của thầy từ Cà Mau lên hiệp sức. Đêm xuống chờ khi con nước chảy mạnh thầy cùng hai đệ tử lặn xuống nghe nước phá xói ếm bùa dẫn cá vào rọ.

Mẻ cá đầu tiên trúng tới mức không ngờ. Lẫn giữa hàng đống cá là rắn rùa càng đước. Mấy thứ đó Bảy Ngật đem làm thịt kéo xuống bè ngồi nhậu với thầy nò với thợ ì xèo suốt cả buổi chiều. Ông thầy nò nhậu túc tắc thủng thẳng khề khà nhâm nhi từng ngụm rượu vừa nhậu vừa huyên thuyên đủ thứ chuyện về tôm cá trong đồng ngoài sông. Biết nhiều chuyện như Bảy Ngật mà cũng chỉ ngồi nghe bởi vì hầu như ông thầy nò nào cũng vậy họ chỉ thích nói chứ không thích bị hỏi vặn.

 

Được nhậu với thầy nò tôi biết thêm mùa cá đường ở Kiên Giang cá đổ vô vùng biển cạn nườm nượp từng đoàn dân tình quanh vịnh biển kéo nhau lội dưới nước mà bắt cá. Bắt được con nào dùng dao mổ luôn con đó moi lấy bong bóng rồi vứt con cá trở lại. Người ta giết cá tới mức ngày nay muốn kiếm được ký bong bóng cá đường cũng đỏ mắt.

 

Ông thầy nò còn kể về việc đóng đáy hàng khơi mùa chướng bọt nước kéo về từng đàn nhiều khi kéo cả lưới cả người đi tuốt luốt. Biết bao người đóng đáy hàng khơi đã thiệt mạng vì sóng lừng cao lừng lững như cả tòa nhà ập xuống. Biết là sanh nghề tử  nghiệp nhưng đã say nghề thì không thể dứt ra được.

 

Tôi nhớ hồi còn nhỏ một thuở tôi thường theo ông Bảy Ngật đi bẻ cẳng cò. Hồi đó không biết cò ở đâu ra mà nhiều qúa thể. Chúng tôi cắt nhau người thì leo lên cây phủ lá kín người ngồi nấp người thì lội lòng vòng đập nắp soong và hò hét rum trời. Cò nghe động chao chác bay lên lượn lòng vòng một chặp mỏi cánh lại sà xuống đậu trên tàng cây. Bấy giờ người ngồi nấp trên cây chỉ việc thò tay nắm cẳng cò mà kéo xuống bẻ gãy rồi nhét vô bao. Mỗi buổi mỗi đứa bắt vài chục con dễ ợt.

 

Hồi mười bốn tuổi có lần tôi theo Bảy Ngật đi đào hầm cá trê. Chỉ mỗi cái hầm cá cặp theo mí mương mà hai bác cháu bắt hì hụi từ chín giờ sáng tới tận bốn giờ chiều mới hết.

Thời tôm cá ê hề thì rắn rít cũng ê hề. Có bữa Bảy Ngật vô bưng Sẫm bắt đem về một hai con rắn hổ mây dài tới gần hai mét. Hổ mây là thứ rắn độc dữ tính khi ấp trứng hễ nghe động tiếng người là ngóc đầu dậy phun nọc phè phè. Có người loạng quạng bị nó rượt chạy trối chết. Nghe đâu hổ mây còn vắt mình trên cành cây thỏng mình xuống vũng tát nước xành xạch để bắt cá.

 

Ông thầy nò vốn dĩ trước đây cũng từng theo nghề thầy thuốc rắn từ khi bỏ xứ ra đi để trốn lính mới theo học nghề nò rồi thành thầy nò. Cũng giống Bảy Ngật ông thầy nò sống độc thân từ hồi nào tới giờ. Ông sống vất vuởng nay đây mai đó tứ cố vô thân tới tận bây giờ cũng chưa chịu tìm miếng đất cặm sào.

 

Đến yểm bùa cho Bảy Ngật được chừng hơn một tháng thầy nò lại bịt khăn khất vận bộ bà ba bạc phếch ra đi. Hành trang chỉ có mỗi cái giỏ đệm bên trong đựng mấy cái quần xà lỏn- thứ xà lỏn dài tới ngang đầu gối. Ngoài mấy cái quần xà lỏn ra trong giỏ chỉ có thêm mỗi bịch thuốc rê với cái hộp quẹt sắt.

 

Tiễn ông bạn già xuống tàu đò Bảy Ngật lắc đầu nói với tôi: “Gia tài của ổng chỉ có bi nhiêu đó. Tài sản có giá nhất là cái mũi biết hít mùi cá với cái xi nhông tóc buông thả lòng thòng sau ót. Ổng lỡ say nghề rồi làm sao mà bỏ được. Đó là cái nghiệp của một kiếp người. Nhiều khi nó không đâu vào đâu mà thành nghiệp chướng đó mầy”.

 

Tôi biết trên đời này có người yêu nghề như yêu quê yêu quê như yêu nghề; với họ nghề là nghiệp không buông ra được như thể quê hương là nguồn cội không thể xa rời. Ông thầy nò là người yêu nghề còn ông anh của Bảy Ngật lại là người yêu quê.

 

Ông thầy nò ra đi được chừng hơn một tháng Bảy Ngật nhận được thư của ông anh báo rằng Sáu Bật sẽ về làng.

 

Hoài Khánh

HK vừa làm việc xong tranh thủ ghé vào đọc bài viết của anh (nhưng hơi dài) và chúc anh một ngày chủ nhật vui khỏe hạnh phúc.