Truy Phong- một nhà thơ một nhà giáo một nhà binh đất phương Nam

 

Truy Phong tên thật là Dương Tấn Huấn sinh năm 1925 tại cù lao Dài nay thuộc ấp Thanh Lương xã Quới Thiện huyện Vũng Liêm tỉnh Vĩnh Long. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước yêu thơ. Cha ông là cụ Dương Mậu Sum từng là Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Hành chính xã Thạnh Phú. Anh ruột của ông từng là một nhà thơ tên tuổi của làng thơ Cửu Long có tên là Mộng Hồn Quyên- rất tiếc là đã sớm qua đời khi còn rất trẻ. (HTT)

 

Con người và sự việc

 

MỘT NHÀ GIÁO ĐẤT PHƯƠNG NAM

 

 

Tâm Trang 1978Từ lâu tôi đã nghe nhiều người nhắc đến danh tánh của ông nhưng gần đây mới gặp. Đó là nhà thơ nhà giáo Truy Phong- Nguời đã gắn bó gần trọn cuộc đời với nghề dạy học và thơ.

 

 

TRUY PHONG- NHÀ THƠ KHÁNG CHIẾN

 

Truy Phong tên thật là Dương Tấn Huấn sinh năm 1925 tại cù lao Dài nay thuộc ấp Thanh Lương xã Quới Thiện huyện Vũng Liêm tỉnh Vĩnh Long. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước yêu thơ. Cha ông là cụ Dương Mậu Sum từng là Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Hành chính xã Thạnh Phú. Anh ruột của ông từng là một nhà thơ tên tuổi của làng thơ Cửu Long có tên là Mộng Hồn Quyên- rất tiếc là đã sớm qua đời khi còn rất trẻ.

Thuở nhỏ Truy Phong theo học trường làng rồi trường huyện Càng Long đậu bằng Certificat của Pháp. Sau đó ông lên Sa Đéc học trường tư và được bổ về làm việc ở Tòa báo Tân tiến- Sa Đéc (1943).

Sau ngày Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công thực dân Pháp trở lại gây hấn ở Nam Bộ Truy Phong đã nhanh chóng tham gia hoạt động trong Ban tuyên truyền thanh niên tiền phong tại quê nhà. Khi chiến tranh lan rộng Truy Phong đã thoát ly gia đình lên công tác ở Ban tuyên truyền huyện Vũng Liêm; sau đó chuyển sang Đoàn Văn hóa kháng chiến tỉnh Vĩnh Long(1947). Năm 1949 Truy Phong vào bộ đội được điều về công tác ở Ban Văn nghệ thuộc Ban Chính trị liên trung đoàn 109 – 111(Vĩnh Long – Trà Vinh). Đây là thời kỳ bút lực của ông được phát huy tốt nhất để phục vụ cho cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Thời kỳ này ông vừa viết báo vừa làm thơ vừa tích cực phục vụ cho công tác tuyên truyền xung phong và công tác chính trị trong quân đội.

Năm 1945 Truy Phong được giải nhì về văn của Phòng chính trị quân khu 9 với tập “Mấy phóng sự về kháng chiến”. Năm 1948 lại được tiếp 2 giải nhất về thơ: “Dân quê kháng chiến” giải I thơ của Phòng chính trị QK9; “Tấm lòng quê” giải I nhất cuộc thi thơ của Viện Văn hóa kháng chiến Nam Bộ(Hoàng Xuân Nhị làm Viện trưởng).

Năm 1950 đi chiến dịch trà Vinh Truy Phong đã cùng bộ độitiểu đoàn 308 tham gia trận công đồn diệt viện tại ấp Nô Men(PhNomen) xã Long Hiệp huyện Trà Cú. Sau trận thắng giòn giã này ông đã viết bài thơ “Nô Men”. Bài thơ được ông Lê Nguyên Phổ(tức Bùi Kinh Lăng) tiểu đoàn trưởng trưởng ban chính trị chiến dịch khen: “Chỉ cần với bài thơ này xem như đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ với chiến dịch”.

Bài thơ có đoạn như sau:

 

Với ý chí với hận thù bốc lửa

Phá tan đồn bắt sống trọn đồn Tây

      Đánh tiếp viện đánh máy bay thiết giáp

Ngã trăm thằng khi mới lọt vòng vây!

San bằng cứ điểm

Giữa đêm trăng ngời

Chặn đứng thiết giáp

Dưới nắng thiêu người

Đuổi giặc chạy chết

Trong bom đạn rơi…

Cây cỏ tả tơi bầm máu giặc

Lộ đồng nghiêng giữa xác thù phơi

 

TRUY PHONG- NHÀ GIÁO YÊU NƯỚC

 

Do yêu cầu của Cách mạng năm 1953 Truy Phong được bố trí về hoạt động công khai trong lòng địch do ông Trần Xuân Vỹ(cán bộ tình báo) phụ trách. Lúc đầu ông về Sa Đéc sau đó đổi về Trà Vinh dạy học. Lĩnh vực hoạt động của ông lúc này là tham gia dạy học để truyền bá tư tưởng yêu nước; đồng thời tham gia sáng tác thơ văn trong phong trào Văn hóa Văn nghệ công khai ở thành thị cùng với các ông Sơn Nam Viễn Phương Kiên Giang…

 Nghề dạy học  đã đeo đẳng ông suốt cuộc đời. Và suốt cuộc đời dạy học ông chỉ luôn quanh năm mặc bộ đồ trắng luôn giữ tấm lòng trung trinh với Cách mạng với dân với nước. Màu Trắng chính là tâm sự của ông trong một bài thơ có tựa đề: “Người vợ tấm mẳn hay là gửi người thương nữ”.

Bài thơ có đoạn như sau:

 

Em rủ rê anh lìa xứ sở

Cùng say “cõi mộng” ấp trăng hoa

Em đem hương sắc đem phù phiếm

Câu nhử cho anh bỏ vợ nhà.

Em đẹp dù hơn tiên giáng thế

Dù em “sang trọng” giữa  “binh đinh”.

Đẹp gì tạm bợ sang gì nhục

Son phấn… không làm mờ mắt anh.

Anh quen làm bạn với ngô khoai

Giữ miếng vườn kia mảnh ruộng này

Thơm khóm ngọt ngào hương đất nước

Đem vàng không đổi bạc không thay.

Tim anh một qủa tình anh một

Rạng một vừng trăng một mặt trời

Nước Việt Nam mình chung một nước

Đời anh một vợ một chồng thôi!

 

“MỘT THẾ KỶ- MẤY VẦN THƠ” – MẠNH HƠN CẢ SƯ ĐOÀN

 

Năm 1956 giữa lúc Mỹ – Diệm ra sức tố cộng diệt cộng đàn áp dã man người kháng chiến bài thơ “Một thế kỷ- mấy vần thơ” của Truy Phong được tuần báo Tiến thủ Sài Gòn xuất bản đã như một cú sét bùng nổ trên bầu trời sài Gòn gây choáng váng cho bè lũ Mỹ – Nguỵ và lập tức tạo ra được tiếng vang lớn làm chấn động cả miền Nam.

Về điều này ông Lê Hồng Tư(chiến sĩ tử tù) viết: “Năm ấy giữa lúc địch đánh phá ác liệt thì “Một thế kỷ- mấy vần thơ” xuất hiện trên báo Tiến thủ(Sài Gòn). Một người đọc 10 người đọc rồi hàng trăm hàng ngàn người đọc. Không riêng gì sinh viên học sinh trí thức mà cả công luận ở Sài Gòn và các thành thị miền Nam đều phấn khởi đón nhận bài thơ. Bài thơ dài trên 100 câu mà rất nhiều người thuộc lòng. Chúng tôi: tất cả anh em cán bộ chiến sĩ đều coi bài thơ như một thứ vũ khí đấu tranh sắc bén”.

Về giá trị nghệ thuật của bài thơ nhà văn Sơn Nam nhận xét: “Bài thơ sáng tác trên mười bốn năm qua nhưng vẫn còn đẹp theo thiển ý chúng tôi thì đây là một trong những bài thơ đẹp nhứt của thế kỷ thứ hai mươi này. Lời thơ hồn nhiên nhưng sâu đậm giản dị nhưng không tầm thường. Lại còn thái độ bao dung ôn hòa của thi sĩ chỉ đứng vào tư thế một người dân một công dân.”.

Về tính chiến đấu của bài thơ ông Nguyễn trung Tính viết: “Bài thơ “Một thế kỷ- mấy vần thơ” của Truy Phong có thể coi như bản anh hùng ca mang tầm vóc lịch sử và thời đại hiên ngang xuất hiện trên văn đàn công khai ở miền Nam được sử dụng như một vũ khí tuyên truyền sắc bén phổ biến trong giới học sinh”.

Một sự thật mà giới trí thức Sài Gòn lúc đó ai cũng biết là: sau khi Tiến thủ đăng bài thơ hàng trăm cú điện thoại đã tới tấp gọi đến tra hỏi hăm dọa. Sau đó một tốp người đã hùng hổ bao vây Tòa báo xông vào thẳng tay đập phá nhân viên và tài sản của Tòa soạn quyết tìm giết bằng được ông Chủ nhiệm Việt Tha Lê Văn thử; sau đó ráo riết thu hồi số báo có in bài thơ và ra lệnh cấm Tòa báo Tiến thủ hoạt động. Thế nhưng sức sống mãnh liệt của bài thơ vẫn cứ bùng lên vươn cánh bay xa động viên và kêu gọi hàng trăm ngàn người lên đường tham gia kháng chiến. Bởi vậy có người đã nói: “Một thế kỷ- mấy vần thơ” có sức mạnh hơn cả một sư đoàn!

 

Bao năm khói lửa

Ta hiểu nhau rồi

Cái gì bạo ngược và phi nghĩa

Là trái lòng dân nghịch ý trời

Sắt thép tinh ròng binh tướng dữ

Không sao thắng được trái tim người.

     Anh về là phải anh ơi!

Về bây giờ để cho đời nhớ anh.

Những cái gì tôi hận

Những cái gì tôi khinh

    Bây giờ anh xuống tàu binh

Trăm năm chuyện cũ thôi mình bỏ qua.

 

(Tr: “Một thế kỷ- mấy vần thơ”)