tìm hiểu về Nhật Bản nguồn từ: Wikipedia

Nhật Bản (tiếng Nhật: 日本国 Nihon-koku/Nippon-koku; Hán-Việt: Nhật Bản quốc chữ Bản 本 trong các văn bản cũ cũng được đọc là Bổn) cũng được gọi tắt là Nhật là tên của một quốc gia hải đảo hình vòng cung có diện tích tổng cộng là 377.834 km² nằm xoải theo bên sườn phía đông lục địa châu Á. Nó nằm ở phía đông của Hàn Quốc NgaTrung Quốc và trải từ biển Okhotsk ở phía bắc đến biển đông Trung Quốc ở phía nam.

Nhật Bản thuộc vùng ôn đới có 4 mùa rõ rệt. Nước Nhật có 4 đảo lớn theo thứ tự từ Bắc xuống Nam là: Hokkaido (北海道 Bắc Hải Đạo) Honshu (本州 Bản Châu) Shikoku (四国 Tứ Quốc) và Kyushu (九州 Cửu Châu) cùng hàng ngàn đảo nhỏ chung quanh. Phần lớn đảo ở Nhật Bản có rất nhiều núi và núi lửa tiêu biểu như núi Phú Sĩ cao nhất ở Nhật Bản. Nhật Bản là quốc gia có dân số lớn thứ mười thế giới với ước tính khoảng 128 triệu người. Vùng thủ đô Tōkyō bao gồm thủ đô Tokyo và một vài tỉnh xung quanh là vùng đô thị lớn nhất thế giới với khoảng 30 triệu người sinh sống.

Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu thế giới về khoa họccông nghệ. Nhật Bản cũng là nền kinh tế lớn thứ hai toàn cầu tính theo GDP chỉ sau Hoa Kỳ; và là đất nước đứng thứ 5 trên thế giới trong lĩnh vực đầu tư cho quốc phòng; xếp thứ 4 thế giới về xuất khẩu và đứng thứ 6 thế giới về nhập khẩu. Quốc gia này là thành viên của tổ chức Liên Hiệp Quốc G8 G4APEC.

 

Mục lục

[ẩn]

[sửa] Tên nước

Tên "Nhật Bản" viết theo RōmajiNihon theo chữ Hán hai chữ "Nhật Bản" có nghĩa là "gốc của Mặt Trời" và như thế được hiểu là "xứ Mặt Trời mọc".

Nhật Bản còn có các mĩ danh là "xứ sở hoa anh đào" vì cây hoa anh đào (桜 sakura) mọc trên khắp nước Nhật từ Bắc xuống Nam những cánh hoa "thoắt nở thoắt tàn" được người Nhật yêu thích phản ánh tinh thần nhạy cảm yêu cái đẹp sống và chết đều quyết liệt của dân tộc họ; "đất nước hoa cúc" (xin xem: Hoa cúc và thanh kiếm của Ruth Benedict nhà dân tộc học người Mỹ năm 1946) vì bông hoa cúc 16 cánh giống như Mặt Trời đang tỏa chiếu là biểu tượng của hoàng gia và là quốc huy Nhật Bản hiện nay; "đất nước Mặt Trời mọc" vì Nhật Bản là quốc gia ở vùng cực đông tổ tiên của họ là nữ thần Mặt Trời Amaterasu (天照 Thái dương thần nữ).

Vào thế kỷ thứ 4 Nhật Bản đã lấy tên nước là Yamato. Còn người Trung Quốc từ trước Công nguyên đã gọi Nhật là Nụy quốc (倭国 "nước lùn") người NhậtNụy nhân (倭人 "người lùn") những tên cướp biển trên biển Đông Trung Hoa thời MinhNụy khấu (倭寇 "giặc lùn"). Do thời đó người Nhật chưa có chữ viết riêng nên Yamato được viết bằng chữ Hán 倭. Sau này người Nhật dùng hai chữ Hán 大和 (Đại Hòa) để biểu ký âm Yamato thể hiện lòng tự tôn dân tộc.

Nhật Bản còn được gọi là Phù Tang (扶桑). Cây phù tang tức một loại cây dâu. Theo truyền thuyết cổ phương Đông có cây dâu rỗng lòng gọi là Phù Tang hay Khổng Tang là nơi thần Mặt Trời nghỉ ngơi trước khi cưỡi xe lửa du hành ngang qua bầu trời từ Đông sang Tây do đó Phù Tang hàm nghĩa văn chương chỉ nơi Mặt Trời mọc[4].

Năm 670 năm đầu niên hiệu Hàm Hanh (670-674) nhà Đường (vua Đường Cao Tông) Nhật Bản gửi một sứ bộ đến chúc mừng triều đình Trung Quốc nhân dịp vừa bình định Cao Ly (Triều Tiên) và từ đó được đổi tên là Nhật Bản.

[sửa] Xuất xứ Nhật Bản

Hoa Anh Đào (桜; Prunus). Nhật Bản có mĩ danh là xứ sở hoa Anh Đào vì người Nhật rất thích nên trồng cây hoa anh đào khắp nước
Hạc Nhật Bản (Grus japonensis). Loại hạc (タンチョウ tancho) rất đẹp này của hòn đảo Hokkaido đã từng làm đề tài cho các bức danh họa nhiều thế kỷ trước

Cho đến nay người ta vẫn chưa chắc chắn về xuất xứ và thời gian xuất hiện của những cư dân đầu tiên trên quần đảo Nhật Bản. Tuy nhiên hầu hết các học giả đều cho rằng người Nhật đã có mặt tại quần đảo từ xa xưa và định cư liên tục từ đó cho đến thời nay. Những phát hiện trong nghiên cứu cổ vật xương đã củng cố thêm sự nghi ngờ đối với thuyết trước kia cho rằng người Nhật là con cháu của những người xâm chiếm đến sau "thổ dân" Ainu và đã đẩy bộ tộc này ra khỏi quần đảo. Ngày nay người ta tin rằng tổ tiên của người Nhật là những người đã làm nên đồ gốm mang tên Jomon. Những người này được biết là đã có mặt trên quần đảo ít nhất từ năm 5000 TCN sau đó theo thời gian pha trộn với các giống người khác phát triển qua lịch sử thành dân tộc Nhật Bản ngày nay.

Ngôn ngữ và phong tục của người Nhật gồm những thành tố văn hoá của cả phương Bắc lẫn phương Nam. Dưới góc độ sử dụng và cú pháp rõ ràng tiếng Nhật thuộc hệ ngôn ngữ Altai của các dân tộc phía Bắc lục địa châu Á song trong từ vựng lại có nhiều từ gốc từ phía Nam. Trong các tập quán và tín ngưỡng ta thấy các lễ nghi gắn với văn hóa lúa nước vốn có nguồn gốc ở phía Nam; còn huyền thoại lập nước bởi vị thần - ông tổ của nòi giống - từ thiên đường xuống hạ giới thì có nguồn gốc ở phía Bắc. Vì vậy người ta cho rằng dân cư ở đây có xuất xứ từ cả phương Bắc lẫn phương Nam đến quần đảo Nhật Bản từ thời tiền sử và qua một quá trình hoà trộn các chủng tộc dần dần tạo ra dân tộc Nhật Bản.

[sửa] Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Nhật Bản
  • Từ 15.000 năm trước Công Nguyên ở Nhật Bản đã có con người sinh sống.
  • Từ 13.000 năm trước Công Nguyên người Nhật đã biết trồng lúa làm đồ gốm[5][6][7] sống định cư.
  • Từ 300 năm trước Công Nguyên đã sử dụng đồ kim khí[8][9][10][11].
  • Từ thế kỷ thứ 3 đến giữa thế kỷ thứ 6 những nhà nước đầu tiên xuất hiện. Đạo Shinto phát triển khắp cả nước. Nước Nhật bắt đầu có tên gọi là Yamato.
  • Từ thế kỷ thứ 6 đến đầu thế kỷ thứ 8 một nhà nước tập quyền được thành lập và đóng đô ở Asuka (gần thành phố Nara ngày nay). Tên nước từ Yamato đổi thành Nhật Bản.
  • Giữa thế kỷ thứ 8 đạo Phật đã thiết lập cơ sở vững chắc ở Nhật Bản[12].
  • Từ thế kỷ thứ 9 đến cuối thế kỷ 12 các dòng họ quý tộc hùng mạnh ở Heian thay nhau nắm sức mạnh chính trị của đất nước lấn át quyền lực của Hoàng đế. Cuối thời này tầng lớp võ sĩ bắt đầu hình thành và tranh giành quyền lực với các dòng tộc quý tộc.
  • Cuối thế kỷ 12 đến đầu thế kỷ 14 quyền lực thực sự nằm trong tay tầng lớp võ sĩ ở Kamakura. Vào các năm 1271 và 1281 các võ sĩ Nhật Bản với sự trợ giúp của bão và sóng thần đã đánh bại hải quân Mông Cổ định xâm lược nước mình.
  • Từ thế kỷ 14 đến cuối thế kỷ 16 nước Nhật trong tình trạng mất ổn định do nội chiến và chia rẽ. Nhật Bản cũng từng xâm lược bán đảo Triều Tiên trong thời kỳ này.
  • Sau đó nước Nhật có một thời kỳ bế quan tỏa cảng ổn định kéo dài ba thế kỷ dưới sự cai trị của các tướng quân Tokugawa. Kinh tế văn hóa và kỹ thuật có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Người phương Tây khởi đầu là người Hà Lan được phép giao thương với Nhật Bản thông qua một thương cảng nhỏ.
  • Giữa thế kỷ 19 Nhật mở cửa triệt để với phương Tây. Quyền lực của các shogun và các daimyo bị bãi bỏ và được tập trung tối cao trong tay Thiên Hoàng. Công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ đất nước phát triển xâm lăng Đài Loan Ryukyu chiến tranh với Nga xâm lược Triều Tiên[13].
  • Trong Thế chiến thứ nhất Nhật đứng về phe đồng minh. Sang Thế chiến thứ hai đứng về phe Trục[14]. Lần đầu tiên trong lịch sử vào năm 1945 Nhật thất bại và phải chịu sự "đô hộ" của nước ngoài[15].
  • Sau chiến tranh Nhật tập trung phát triển kinh tế nhanh chóng. Cuối thập niên 1960 Nhật hoàn thành công cuộc công nghiệp hóa trở thành một nước tư bản phát triển. Manh nha những dấu hiệu đình trệ kinh tế đầu tiên sau khủng hoảng dầu lửa đầu thập niên 1970.
  • Bước vào thế kỷ 21 Nhật ưu tiên hơn đến những chính sách quốc gia để gia tăng vị thế về chính trị và quân sự trên trường quốc tế. Nâng cấp Cục phòng vệ quốc gia thành Bộ quốc phòng vào tháng 1 năm 2007.

[sửa] Ngôn ngữ

Bài chi tiết: Tiếng Nhật

Tiếng Nhật được viết trong sự phối hợp ba kiểu chữ: Hán tự hay Kanji và hai kiểu chữ đơn âm mềm Hiragana (Bình Giá Danh) và đơn âm cứng Katakana (Phiến Giá Danh). Kanji dùng để viết các từ Hán (mượn của Trung Quốc) hoặc các từ người Nhật dùng chữ Hán để thể hiện rõ nghĩa. Hiragana dùng để ghi các từ gốc Nhật và các thành tố ngữ pháp như trợ từ trợ động từ đuôi động từ tính từ v.v. Katakana dùng để phiên âm từ vựng nước ngoài trừ tiếng Trung và từ vựng của một số nước dùng chữ Hán khác. Bảng ký tự Latinh Rōmaji cũng được dùng trong tiếng Nhật hiện đại đặc biệt là ở tên và biểu trưng của các công ty quảng cáo nhãn hiệu hàng hóa khi nhập tiếng Nhật vào máy tính và được dạy ở cấp tiểu học nhưng chỉ có tính thí điểm. Số Ả Rập theo kiểu phương Tây được dùng để ghi số nhưng cách viết số theo ngữ hệ Hán-Nhật cũng rất phổ biến.

[sửa] Phân cấp hành chính

Bài chi tiết: Tỉnh Nhật Bản

Đơn vị phân vùng hành chính cấp 1 của Nhật Bản là đô đạo phủ huyện cả nước được chia thành 1 đô 1 đạo 2 phủ 43 huyện. Các đô thị lớn tùy theo số dân và ảnh hưởng mà được chỉ định làm thành phố chính lệnh chỉ định thành phố trung tâm thành phố đặc biệt. Phân vùng hành chính dưới đô đạo phủ huyện là thị định thôn ngoài ra còn có các đơn vị như quận chi sảnh khu đặc biệt khu... Căn cứ vào địa lý và nhân văn đặc trưng kinh tế Nhật Bản thường được chia thành 8 khu vực lớn bao gồm: vùng Hokkaidō vùng Đông Bắc vùng Kantō vùng Trung Bộ vùng Kinki (còn gọi là vùng Kansai) vùng Chūgoku vùng Shikoku và vùng Kyushu-Okinawa.

Mấy năm gần đây Nhật Bản thi hành chính sách sáp nhập thị đinh thôn số lượng đinh thôn đã giảm nhiều. Hiện nay để giảm bớt sự tập trung một cực của Tōkyō và tăng cường phân quyền địa phương Nhật Bản đang nghiên cứu bỏ đô đạo phủ huyện chuyển sang chế độ đạo châu (thảo luận chế độ đạo châu Nhật Bản). Năm 1968 Nhật Bản ban hành chế độ mã số bưu chính đoàn thể công khai địa phương. Hiện thời đô đạo phủ huyện và các thị đinh thôn đều có mã số bưu chính của mình. Mã số bưu chính của đô đạo phủ huyện ăn khớp với tiêu chuẩn quốc tế ISO 31166-2:JP.

[sửa] Địa lý

Bài chi tiết: Địa lý Nhật Bản

Nhật Bản có diện tích tổng cộng là 377.834 km². Đất đai của Nhật Bản là một dãy hải đảo trải theo hình vòng cung bên cạnh phía Đông của lục địa Châu Á dài 3.800 km. Địa hình chủ yếu là đồi núi (71%). Có nhiều núi nguồn gốc núi lửa một số ngọn vẫn còn hoạt động tiêu biểu là núi Phú Sĩ (Fujisan) (3.776 m).

Nhật Bản có hơn 3.000 hòn đảo nhỏ và 4 đảo lớn là đảo Honshu (本州) chiếm khoảng 60% toàn thể diện tích[16] đảo Hokkaido (北海道) đảo Kyushu (九州) và đảo Shikoku (四国). Trong số các hòn đảo nhỏ đảo Okinawa (沖縄) là lớn nhất và quan trọng nhất nằm giữa đường kéo dài từ mỏm phía cực tây của đảo Honshu tới đảo Đài Loan. Hòn đảo Okinawa này tuy thuộc về Nhật Bản nhưng trước kia do ở khá xa phần đất chính nên đã phát triển được một thứ văn hóa riêng và một số điểm khác biệt với nếp sống của bốn hòn đảo lớn.

Sóng thần động đất núi lửa bão nhiệt đới khá phổ biến ở Nhật Bản. Đặc biệt do thuộc vành đai lửa Thái Bình Dương Nhật Bản là một trong những vùng có nhiều động đất nhất thế giới. Mỗi năm có hàng trăm dư chấn có những trận động đất gây tổn thất nặng nề.

Nhật Bản là một xứ sở có phong cảnh được coi là một trong những nơi đẹp nhất thế giới với bốn mùa thay đổi rõ rệt: mùa xuân với hoa anh đào nở dần từ nam lên bắc mùa hè cây cối xanh mướt mùa thu lá phong (momiji) đỏ thắm từ bắc xuống nam mùa đông tuyết trắng tinh khôi. Ngọn Núi Phú Sĩ (Fujisan) cao nhất Nhật Bản nằm giữa đồng bằng lại có tuyết bao phủ nơi phần đỉnh núi là nguồn cảm hứng của rất nhiều văn sĩ và thi sĩ xứ Phù Tang cũng như của các văn nghệ sĩ trong đó có các nhiếp ảnh gia và họa sĩ khắp bốn phương.

Chủ đề địa lý Nhật Bản
Vị trí các Tỉnh Nhật Bản
   
Hokkaido

  Aomori
  Akita Iwate
Niigata Yamagata Miyagi
  Ishikawa Toyama Tochigi Fukushima
  Fukui Nagano Gunma saitama Ibaraki
  Shimane Tottori Hyōgo Kyoto Shiga Gifu Yamanashi Tokyo Chiba
  Yamaguchi Hiroshima Okayama Osaka Nara Aichi Shizuoka Kanagawa
Saga Fukuoka   Wakayama Mie
Nagasaki Kumamoto Ōita   Ehime Kagawa
  Kagoshima Miyazaki   Kochi Tokushima
Okinawa

 

[sửa] Khí hậu

Nhật Bản nhìn từ không gian tháng 5 năm 2003

Nhật Bản là quốc gia với hơn ba nghìn đảo trải dài dọc biển Thái Bình Dương của Châu Á. Các đảo chính chạy từ Bắc tới Nam bao gồm Hokkaidō Honshū (đảo chính) ShikokuKyūshū. Quần đảo