tìm hiểu về Nhật Bản nguồn từ: Wikipedia

Khí hậu

Nhật Bản nhìn từ không gian tháng 5 năm 2003

Nhật Bản là quốc gia với hơn ba nghìn đảo trải dài dọc biển Thái Bình Dương của Châu Á. Các đảo chính chạy từ Bắc tới Nam bao gồm Hokkaidō Honshū (đảo chính) ShikokuKyūshū. Quần đảo Ryukyu bao gồm Okinawa là một chuỗi các hòn đảo phía Nam Kyūshū. Cùng với nhau nó thường được biết đến với tên gọi "Quần đảo Nhật Bản".

Khoảng 70%-80% diện tích Nhật Bản là núi loại hình địa lý không hợp cho nông nghiệp công nghiệp và cư trú. Có điều này là do độ cao dốc so với mặt nước biển khí hậu và hiểm họa lở đất gây ra bởi những cơn động đất đất mềm và mưa nặng. Điều này đã dẫn đến một nền mật độ dân số rất cao tại các vùng có thể sinh sống được chủ yếu nằm ở các vùng eo biển. Nhật Bản là quốc gia có mật độ dân số lớn thứ 30 trên thế giới.

Vị trí nằm trên vành đai núi lửa Thái Bình Dương nằm ở điểm nối của ba vùng kiến tạo địa chất đã khiến Nhật Bản thường xuyên phải chịu các dư trấn động đất nhẹ cũng như các hoạt động của núi lửa. Các cơn động đất có sức tàn phá thường dẫn đến sóng thần diễn ra vài lần trong một thế kỷ. Những cơn động đất lớn gần đây nhất là động đất Chūetsu năm 2004 và đại động đất Hanshin năm 1995. Vì các hoạt động núi lửa diễn ra thường xuyên nên quốc gia này có vô số suối nước nóng và các suối này đã và đang được phát triển thành các khu nghỉ dưỡng.

Khí hậu Nhật Bản phần lớn là ôn hòa nhưng biến đổi từ Bắc vào Nam. Đặc điểm địa lý Nhật Bản có thể phân chia thành 6 vùng khí hậu chủ yếu:

  • Hokkaidō: vùng cực bắc có khí hậu ôn hòa với mùa đông dài và lạnh mùa hè mát mẻ. Lượng mưa không dày đặc nhưng các đảo thường xuyên bị ngập bởi những đống tuyết lớn vào mùa đông.
  • Biển Nhật Bản: trên bờ biển phía Tây đảo Honshū gió Tây Bắc vào thời điểm mùa đông mang theo tuyết nặng. Vào mùa hè vùng này mát mẻ hơn vùng Thái Bình Dương dù đôi khi cũng trải qua những đợt thời tiết rất nóng bức do hiện tượng gió Phơn.
  • Cao nguyên trung tâm: Một kiểu khí hậu đất liền điển hình với sự khác biệt lớn về khí hậu giữa mùa hè và mùa đông giữa ngày và đêm. Lượng mưa nhẹ.
  • Biển nội địa Seto: Các ngọn núi của vùng ChūgokuShikoku chắn cho vùng khỏi các cơn gió mùa mang đến khí hậu dịu mát cả năm.
  • Biển Thái Bình Dương: Bờ biển phía Đông có mùa đông lạnh với ít tuyết mùa hè thì nóng và ẩm ướt do gió mùa Tây Nam.
  • Quần đảo Tây Nam: Quần đảo Ryukyu có khí hậu cận nhiệt đới với mùa đông ấm và mùa hè nóng. Lượng mưa nặng đặc biệt là vào mùa mưa. Bão ở mức bình thường.

Nhiệt độ nóng nhất đo được ở Nhật Bản là 40 9 °C - đo được vào 16 tháng 8 năm 2007.

Mùa mưa chính bắt đầu từ đầu tháng 5 tại Okinawa; trên phần lớn đảo Honshū mùa mưa bắt đầu từ trước giữa tháng 6 và kéo dài 6 tuần. Vào cuối hè và đầu thu các cơn bão thường mang theo mưa nặng.

Nhật Bản là quê hương của chín loại sinh thái rừng phản ánh khí hậu và địa lý của các hòn đảo. Nó trải dài từ những rừng mưa nhiệt đới trên quần đảo RyukyuBonin tới các rừng hỗn hợp và rừng ôn đới lá rụng trên các vùng khí hậu ôn hòa của các đảo chính tới rừng ôn đới lá kim (temperate coniferous forest) vào mùa đông lạnh trên các phần phía Bắc các đảo.

Biểu đồ thể hiện đặc trưng khí hậu tại một số thành phố lớn theo Cục Khí Tượng Thủy Văn Nhật Bản.

[sửa] Chính trị Nhật Bản

Bài chi tiết: Chính trị Nhật Bản

Nhật Bản là một trong các nước theo hệ thống quân chủ lập hiến trong đó Thủ tướng là người nắm quyền cao nhất về các phương diện quản lý quốc gia và chịu sự giám sát của hai viện quốc hội cùng tòa Hiến pháp có thẩm quyền ngăn chặn các quyết định vi hiến của chính phủ. Được xây dựng dựa trên hình mẫu của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và một số nước phương Tây khác sau này. Theo hệ thống pháp luật thế giới hiện hành Nhật Bản được xếp vào các nước có nền dân chủ đầy đủ (ưu việt nhất).

[sửa] Hiến pháp

Bài chi tiết: Hiến pháp Nhật Bản

Hiến pháp của nước Nhật Bản được công bố vào ngày 3 tháng 11 năm 1946 và có hiệu lực kể từ ngày 3 tháng 5 năm 1947 quy định rằng nhân dân Nhật Bản thề nguyện trung thành với các lý tưởng hòa bình và trật tự dân chủ.

Dù vậy vào ngày 3 tháng 5 năm 2007 Nghị viện đã thông qua một văn bản dưới luật theo đó cho phép chính phủ tổ chức trưng cầu dân ý cho một bản sửa đổi mới vào năm 2010 và sẽ cần hai phần ba số phiếu thuận của Nghị viện để có hiệu lực.

[sửa] Hoàng gia Nhật Bản

Đứng (trái sang phải): Công chúa Norinomiya Sayako Hoàng tử Akishinonomiya Fumihito Vương phi Kiko.
Ngồi (trái sang phải): Vương phi Masako Thiên hoàng Akihito Công chúa Mako Công chúa Mako Kako Hoàng hậu Michiko Thái tử Naruhito

Hoàng đế của Nhật Bản hiện nay là Akihito (người Nhật gọi hoàng đế Nhật Bản là Thiên hoàng 天皇) sinh ngày 23 tháng 12 năm 1933 tại Tokyo lên ngôi ngày 7 tháng 1 năm 1989. Vị thiên hoàng trước đó Hirohito là thiên hoàng trị vì lâu dài nhất 62 năm và cũng sống lâu nhất 87 tuổi trong lịch sử của nước Nhật.

Thiên hoàng Akihito và Hoàng hậu Michiko có 3 người con (hai trai và một gái). Thái tử Naruhito sinh ngày 23 tháng 2 năm 1960 đã kết hôn với cô Masako và có một con gái. Hoàng tử Akishono có hai con gái và một con trai. Theo Hiến pháp Nhật Bản chỉ nam giới mới được thừa kế ngai vàng.

[sửa] Cơ quan lập pháp

Tổng Thống Bush phát biểu tại Quốc hội Nhật Bản

Quốc hội Nhật Bản (国会 Kokkai) là cơ quan lập pháp cao cấp nhất gồm có Hạ viện (衆議院 shugi-in Chúng nghị viện) với 512 ghế và Thượng viện (参議院 sangi-in Tham nghị viện) với 252 ghế. Hạ viện được bầu ra từ 130 đơn vị bầu cử với số nghị viên từ 2 tới 6 vị tùy theo dân số. Nhiệm kỳ của Thượng viện là 6 năm mỗi 3 năm được bầu lại một nửa. 100 Thượng nghị sĩ được bầu theo sự đại diện tỉ lệ (proportional representation) tức là do các cử tri toàn quốc số còn lại 152 ghế được bầu từ 47 đơn vị bầu cử tỉnh. Hạ viện có quyền bỏ phiếu tín nhiệm hay bất tín nhiệm Nội các đây là một quyền lực chính trị quan trọng nhất của nền chính trị đại nghị. Các công dân Nhật Bản trên 25 tuổi đều có quyền ứng cử Dân biểu và trên 30 tuổi có thể tranh cử ghế Thượng viện. Quyền được thực hiện phổ thông đầu phiếu thuộc về mỗi người dân nam nữ trên 20 tuổi[17].

[sửa] Các đảng phái chính trị

Nhật Bản là quốc gia có chính quyền đa đảng phái. Những đảng phái chính trị lớn gồm có:

[sửa] Các cơ quan Hành pháp và Tư pháp

Bài chi tiết: Chính phủ Nhật Bản

Quyền hành pháp được giao cho Nội các gồm Thủ tướng và các bộ trưởng tất cả chịu trách nhiệm tập thể trước Quốc hội. Thủ tướng phải là một nghị viên của Quốc hội và được Quốc hội bổ nhiệm có quyền chỉ định và bãi nhiệm các bộ trưởng các vị sau này phải là dân sự và phần lớn là nghị viên Quốc hội.

Vào tháng 3 năm 1992 Nhật Bản có 12 bộ và 32 cơ quan (agency) với Văn phòng Thủ tướng 1 17 triệu công chức kể cả 240 ngàn nhân viên thuộc Lực lượng Tự vệ (自衛隊; sách báo Việt Nam quen gọi là Lực lượng Phòng vệ). Ngoài ra còn có Hội đồng Kiểm toán (the Board of Audit) chịu trách nhiệm thanh tra các tài khoản quốc gia.

Nhật Bản được chia làm 47 đô đạo phủ huyện. Đô đạo phủ huyện lại được chia làm các thị đinh thôn (市町村).

Cơ quan tư pháp gồm Tối cao Pháp viện 8 tòa án cao cấp và các tòa án địa phương tòa án gia đình. Tối cao Pháp viện gồm Chánh án được Thiên hoàng Nhật Bản bổ nhiệm và 14 vị Thẩm phán do Nội các chọn. Tất cả các vụ án đều được xét xử công khai nhất là các vụ vi phạm chính trị báo chí và nhân quyền.

[sửa] Kinh tế

Bài chi tiết: Kinh tế Nhật Bản
Trụ sở chính của Sumitomo tại quận Shibuya Tokyo một trong các biểu tượng của sự phồn vinh Nhật Bản

Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản trong khi dân số thì quá đông phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh nhưng với các chính sách phù hợp kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1954) phát triển cao độ (1955-1973)khiến cho cả thế giới hết sức kinh ngạc và khâm phục.Người ta gọi đó là "Thần kì Nhật Bản". Từ 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại song Nhật Bản tiếp tục là một nước có nền kinh tế-công nghiệp-tài chính thương mại-dịch vụ-khoa học kĩ thuật lớn đứng thứ hai trên thế giới (chỉ đứng sau Hoa Kỳ)[18] GDP trên đầu người là 36.217 USD (1989). Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới nên nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều là nước cho vay viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới. Nhật Bản có nhiều tập đoàn tài chính ngân hàng đứng hàng đầu thế giới[19]. Đơn vị tiền tệ là: đồng yên Nhật.

Nhật Bản đang xúc tiến 6 chương trình cải cách lớn trong đó có cải cách cơ cấu kinh tế giảm thâm hụt ngân sách cải cách khu vực tài chính và sắp xếp lại cơ cấu chính phủ... Cải cách hành chính của Nhật được thực hiện từ tháng 1 năm 2001. Dù diễn ra chậm chạp nhưng cải cách đang đi dần vào quỹ đạo trở thành xu thế không thể đảo ngược ở Nhật Bản và gần đây đã đem lại kết quả đáng khích lệ nền kinh tế Nhật đã phục hồi và có bước tăng trưởng năm 2003 đạt trên 3% quý I/2004 đạt 6%.

Dịch vụ ngân hàng bảo hiểm bất động sản bán lẻ giao thông viễn thông tất cả đều là ngành công nghiệp lớn của Nhật Bản Nhật Bản có năng lực rất lớn về công nghiệp và đây là trụ sở của nhiều nhà sản xuất công nghệ tiên tiến bậc nhất thế giới về các sản phẩm xe có động cơ trang thiết bị điện tử công cụ máy móc thép phi kim loại công nghiệp tàu thủy hóa học dệt may thức ăn chế biến. Đây cũng là nơi đặt trụ sở của các tập đoàn đa quốc gia và nhiều mặt hàng thương mại trong lĩnh vực công nghệ và máy móc. Xây dựng từ lâu đã trở thành một trong những nền công nghiệp lớn nhất của Nhật Bản.

Nhật Bản là trụ sở của ngân hàng lớn nhất thế giới tập đoàn tài chính Mitsubishi UFJ (Mitsubishi UFJ Financial Group) với số vốn ước tính lên đến 1.7 nghìn tỉ đô la Mỹ[20]. Nhật Bản cũng là nơi có thị trường chứng khoán lớn thứ hai thế giới - thị trường chứng khoán Tokyo với khoảng 549.7 nghìn tỉ yên vào tháng 12/2006. Đây cũng là trụ sở của một số công ty dịch vụ tài chính những tập đoàn kinh doanh và những ngân hàng lớn nhất thế giới. Ví dụ như những tập đoàn kinh doanh và công ty đa quốc gia như Sony Sumitomo Mitsubishi và Toyota sở hữu hàng tỉ và hàng nghìn tỉ đô la đang hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng nhóm các nhà đầu tư hoặc dịch vụ tài chính như ngân hàng Sumitomo ngân hàng Fuji ngân hàng Mitsubishi các định chế tài chính của Toyota và Sony.

Giao thông ở Nhật Bản rất phát triển vào năm 2004 ở Nhật Bản có khoảng 1.177.278 km (731.683 miles) đường bộ 173 sân bay 23.577 km (14.653 miles) đường sắt. Phương tiện đường không được hoạt động chủ yếu bởi All Nippon Airways (ANA) và Japan Airlines (JAL). Đường sắt được điều khiển bởi Japan Railways. Có rất nhiều các chuyến bay quốc tế lớn từ nhiều thành phố và đất nước trên thế giới đến và rời Nhật Bản.

Những đối tác xuất khẩu chính của Nhật là Hoa Kỳ 22.9% Trung Quốc 13.4% Hàn Quốc 7.8% Đài Loan 7.3% và Hồng Kông 6.1% (2005). Những mặt hàng xuất khẩu chính của Nhật là thiết bị giao thông vận tải xe cơ giới hàng điện tử máy móc điện tử và hóa chất. Do hạn chế về tài nguyên thiên nhiên để duy trì sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản phải phụ thuộc vào các quốc gia khác về phần nguyên liệu vì vậy đất nước này nhập khẩu rất nhiều loại hàng hóa đa dạng. Đối tác nhập khẩu chính của Nhật là Trung Quốc 21%[21] Hoa Kỳ 12.7% A Rập Xê Út 5.5% UAE 4.9% Australia 4.7% Hàn Quốc 4.7% và Indonesia 4% (số liệu 2005). Những mặt hàng nhập khẩu chính của Nhật Bản là máy móc thiết bị chất đốt thực phẩm (đặc biệt là thịt bò) hóa chất nguyên liệu dệt may và những nguyên liệu cho các nghành công nghiệp của đất nước. Nhìn chung Đối tác buôn bán tổng thể lớn nhất của Nhật Bản là Trung Quốc.

Từ giai đoạn 1960 đến 1980 tốc độ phát triển kinh tế Nhật Bản được gọi là "sự thần kì" : tốc độ phát triển kinh tế trung bình 10% giai đoạn 1960 trung bình 5% giai đoạn 1970 và 4% giai đoạn 1980.

Dấu hiệu tăng trưởng có phần chững lại vào những năm 1990 trung bình 1.7% chủ yếu do những tác động của việc đầu tư không hiệu quả và do dư chấn của bong bóng bất động sản vào những năm 1980 đã làm cho các cơ sở sản xuất và kinh doanh mất một thời gian dài tái cơ cấu về nợ quá hạn vốn tư bản và lực lượng lao động. Tháng 11/2007 nền kinh tế Nhật đã chấm dứt đà tăng trưởng kéo dài liên tục 69 tháng kể từ chiến tranh thế giới thứ 2 và chính thức suy thoái vào năm 2008 với mức lãi suất ngân hànhg trung ương hạ đến mức 0% vào đầu năm 2009. Chương trình tư nhân hoá 10 năm ngành bưu điện Nhật vốn không chỉ nhắm đến các hoạt động của hệ thống bưu chính quốc gia mà còn với các cơ sở ngân hàng và bảo hiểm trực thuộc đã hoàn tất vào tháng 10/2007 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tái cấu trúc ngành này của chính phủ. Không giống như tình hình ở các nước phương Tây khu vực tài chính Nhật không chịu ảnh hưởng mạnh từ cuộc Khủng hoảng cho vay thế chấp nhưng do đối mặt với sự sụt giảm mạnh về khối lượng đầu tư cũng như nhu cầu trước các mặt hàng xuất khẩu chủ chốt của Nhật ở nước ngoài vào cuối năm 2008 đã đẩy nước này nhanh hơn vào vòng suy thoái. Tình trạng nợ công quá lớn (chiếm 170%GDP) và tỉ lệ dân số có tuổi quá cao là hai vấn đề đầy thách thức với Nhật Bản về dài hạn. Hiện tại những tranh cãi xung quanh vai trò và hiệu quả của các chính sách vực dậy nền kinh tế là mối quan tâm lớn của người dân lẫn chính phủ nước này[22].

Nhật Bản hiện là một trong các nước có chỉ số lạm phát thấp nhất thế giới[23]
Nhật Bản hiện là một trong các nước có chỉ số lạm phát thấp nhất thế giới[23]

 

Chỉ số thất nghiệp của Nhật từ 1998 đến 2008[24]
Chỉ số thất nghiệp của Nhật từ 1998 đến 2008[24]

[sửa]