tìm hiểu về Nhật Bản nguồn từ: Wikipedia

Khoa học và công nghệ

Blue-ray sẽ là công nghệ DVD kế tục của thế giới[25][26][27]
 
 

Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu thế giới trong các lĩnh vực về nghiên cứu khoa học công nghệ máy móc nghiên cứu y học. Gần 700.000 nhà nghiên cứu chia sẻ 130 tỉ USD của ngân sách nghiên cứu và phát triển đứng hàng thứ 3 trên thế giới[28].

Một vài đóng góp công nghệ quan trọng của Nhật Bản là những phát minh trong các lĩnh vực điện tử ô tô máy móc robot công nghiệp quang học hóa chất chất bán dẫnkim loại. Nhật Bản dẫn đầu thế giới trong nghành khoa học robot đây là quốc gia sở hữu hơn nửa (402.200 trong tổng 742.500) số robot cho công nghiệp sản xuất[29]. Nhật Bản đã phát minh ra QRIO ASIMO và Aibo. Nhật Bản cũng là nhà sản xuất ô tô lớn nhất trên thế giới và là quê hương của 6 trong tổng số 15 nhà sản xuất ô tô lớn nhất toàn cầu[30] cũng như 7 trong số 20 nhà sản xuất chất bán dẫn lớn nhất thế giới.

Nhật Bản đang có những kế hoạch rất sáng sủa trong nghành thám hiểm không gian trong đó có kế hoạch xây dựng một trạm mặt trăng vào năm 2030[31]. Cơ quan thám hiểm không gian Nhật Bản (JAXA) là một trong những thành viên chủ chốt của trạm vũ trụ quốc tế đây là cơ quan chuyên nghiên cứu về không gian vũ trụ các hành tinh các nghiên cứu hàng không phát triển tên lửa và vệ tinh.

Vào ngày 1 tháng 6 lúc 6:02am giờ Nhật Bản tàu con thoi Discovery đã rời bệ phóng Trung tâm vũ trụ Kennedy Florida mang theo Module Kibo cùng nhà du hành Akihiko Hoshide và sáu đồng nghiệp khác mục đích chính của chuyến đi là lắp đặt phần quan trọng của phòng thí nghiệm Nhật Bản có tên Japanese Pressurised Module (JPM) cùng cánh tay máy dài khoảng 10m phục vụ cho công tác lắp đặt về sau cho Kibo[32].

Các nhà nghiên cứu Nhật cũng đã phần nào khẳng định được mình qua các lần đoạt giải Nobel. Hideki Yukawa một trong những nhà khoa học ưu tú xuất thân từ Đại học Kyoto giành giải Nobel về vật lý năm 1949. Sin-Itiro Tomonaga cũng nhận vinh dự tương tự năm 1965. Nhà vật lý chất rắn Leo Esaki sau này xuất thân từ Đại học Tokyo cũng đạt được vinh quang đó năm 1973. Kenichi Fukui của Đại học Kyoto là một trong các nhà khoa học cùng chia giải Nobel hóa học năm 1981. Susumu Tonegawa cũng trưởng thành từ Đại học Kyoto trở thành người Nhật đầu tiên từ 2007 nhận giải này với các thành tựu về sinh hóa kể từ khi lãnh vực này được phát triển năm 1987. Các nhà khoa học nghiên cứu về hóa học cũng không chịu kém khi lần lượt nhận giải vào năm 2000 2001: Hideki Shirakawa (Viện khoa học công nghệ Tokyo) và Ryoji Noyori (Đại học Kyoto). Năm 2002 là nhà vật lý Masatoshi Koshiba (Đại học Tokyo) và hóa học gia Koichi Tanaka (Đại học Tohoku). Năm 2008 Nhật Bản có bốn nhà khoa học nhận giải Nobel gồm có Yoichiro Nambu Makoto Kobayashi Toshihide MaskawaOsamu Shimomura. Nhật Bản là đất nước sở hữu nhiều khoa học gia đoạt giải Nobel nhất ở châu Á hiện nay.

[sửa] Giáo dục

Học sinh Nhật Bản.

Hệ thống tiểu học trung và đại học được áp dụng ở Nhật như một trong các cải cách thời Minh Trị[34]. Từ năm 1947 Nhật Bản áp dụng hệ thống giáo dục bắt buộc gồm tiểu học và trung học trong chín năm cho học sinh từ sáu đến mười lăm tuổi. Hầu hết sau đó đều tiếp tục chương trình trung học và theo MEXT khoảng 75 9% học sinh tốt nghiệp phổ thông tiếp tục học lên bậc đại học cao đẳng hay các chương trình trao đổi giáo dục khác[35]. Giáo dục ở Nhật có tính cạnh tranh rất cao[36] đặc biệt ở các kì thi tuyển sinh đại học điển hình là các kì thi tuyển của hai trường đại học cao cấp Tokyo và Kyoto[37]. Chương trình đánh giá sinh viên quốc tế hợp tác OECD hiện xếp Nhật Bản ở vị trí thứ sáu thế giới về kĩ năng và kiến thức của học sinh mười sáu tuổi[38].

Bên cạnh đó việc chăm sóc cho học sinh tàn tật cũng được Chính phủ quan tâm Nhật Bản có riêng Cục phụ trách các vấn đề Tiểu học và Trung học chịu trách nhiệm chính về công tác chăm sóc giúp đỡ các học sinh tàn tật ngoài ra Cục này còn phụ trách cả vấn đề giáo dục cho trẻ em Nhật Bản sống ở nước ngoài cũng như góp phần giám sát một hệ thống kiểm định và phân phối miễn phí sách giáo khoa cho các đối tượng trên. Gần đây cơ quan này còn kiêm nhiệm thêm một số chương trình thuộc mạng lưới giáo dục địa phương như các chính sách về việc quyết định đội ngũ công tác giáo dục các tiêu chuẩn về diện tích trường lớp số lượng giáo viên cho mỗi trường và các vấn đề tài chánh liên quan[39].

Vào năm 1991 có hơn 2 1 triệu học sinh được nhận vào 507 trường đại học. Tại đây các sinh viên sẽ được đào tạo bốn năm cho cấp bậc cử nhân và sáu năm cho bậc chuyên gia (Tiến sĩ). Có hai loại đại học công lập chính là đại học quốc gia (96 trường) và đại học vùng (39 trường) – do tỉnh hay thành phố lập ra. Cũng theo ghi nhận vào 1991 đã có khoảng 372 trường cao đẳng công được thành lập và đưa vào hoạt động.

Chi phí trung bình gồm học phí phụ phí và sinh hoạt phí ở Nhật vào 1986 khoảng 1 4 triệu yên (10.000 đô-la). Để hỗ trợ cho chi phí này sinh viên được phép làm việc bán thời gian và vay từ Tổ chức học bổng của chính phủ ngoài ra còn có nhiều tổ chức khác từ chính quyền địa phương cơ quan phi lợi nhuận cũng góp phần không nhỏ về mặt tài chính hỗ trợ cho sinh viên.

Theo Thời báo hỗ trợ giáo dục hai trường đại học được cho là danh giá nhất ở Nhật hiện nay là Đại học TokyoĐại học Kyoto.

Ngân sách dành riêng cho công tác giáo dục năm 2005 là 5 733.3 tỉ yên (59 tỉ đô-la) chiếm 7% ngân sách quốc gia (82.182 9 tỉ yên) và chiếm 11.8% ngân sách cho các mục đích công. Hệ thống chiếu sáng cũng chiếm một phần đáng kể trong công tác phát triển cơ sở vật chất (161.3 tỉ yên). Ngân sách dành cho MEXT chủ yếu được chi dùng cho đổi mới công tác giáo dục trợ giúp kinh phí cho các trường tư cho vay học bổng và mở rộng các khóa giảng dạy về khoa học-công nghệ các môn học về thể thao và văn hóa-mỹ thuật cũng được chú ý phát triển. Ngoài ra còn có các kế hoạch tăng lương cho giáo viên tiểu học công[40].

 

Nhật Bản chi trên 7% GDP cho ngân sách giáo dục quốc gia[41]
Nhật Bản chi trên 7% GDP cho ngân sách giáo dục quốc gia[41]

[sửa] Y tế

Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở Nhật chủ yếu được cung cấp bởi chính quyền trung ương và địa phương. Chi phí cho các dịch vụ cá nhân này vốn do một hội đồng chuyên trách của chính phủ thông qua được cung cấp bởi hệ thống bảo hiểm sức khỏe áp dụng rộng rãi và công bằng trên cả nước. Những công dân không muốn sử dụng dịch vụ bảo hiểm của các công ty nơi họ làm việc có thể tham gia vào các loại hình bảo hiểm sức khỏe quốc gia do chính quyền địa phương theo dõi và điều hành. Từ năm 1973 tất cả người già đều được cung cấp miễn phí các loại hình bảo hiểm sức khỏe do chính phủ đài thọ[42] trong đó bệnh nhân được tùy chọn cơ sở họ muốn cùng các hình thức chăm sóc sức khỏe phù hợp nhất[43]

[sửa] Quốc phòng

Hiện nay Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản của Nhật có 180.000 người trong đó mạnh nhất là lực lượng hải quân. Với ngân sách 50 tỉ USD/năm (kể cả chi phí cho quân đội Mỹ ở Nhật Bản) chi tiêu quân sự của Nhật Bản đứng hàng thứ ba sau Mỹ-400 tỷ trên cả Nga-15 tỷ. Từ năm tài khoá 2002 ngân sách quốc phòng Nhật đã vượt con số 1% GDP vươn lên hàng thứ hai trên thế giới[44].

Hướng phát triển quân đội Nhật Bản chủ yếu tập trung vào giảm số lượng nhưng tăng chất lượng trang thiết bị tăng khả năng cơ động mở rộng phạm vi hoạt động của lực lượng phòng vệ Nhật Bản tăng cường hợp tác với Mỹ đồng thời đẩy nhanh các biện pháp củng cố an ninh phòng ngừa công khai về quốc phòng qua các hoạt động diễn đàn chung về an ninh giải trừ quân bị; trao đổi quân sự với các nước trong và ngoài khu vực.

Nhân sự kiện khủng bố 11/9 Chính phủQuốc hội Nhật đã thông qua ba dự luật chống khủng bố gồm: Luật đặc biệt chống khủng bố Luật sửa đổi Lực lượng phòng vệ và Luật sửa đổi Cục bảo an trên biển cho phép Nhật lần đầu tiên sau Thế chiến thứ hai được phép cử quân đội ra nước ngoài hợp tác với Mỹ chống khủng bố. Nhật Bản đã đưa 600 binh sĩ sang Iraq[45] thực hiện các hoạt động nhân đạo. Đây là bước chuyển mới trong chính sách quốc phòng của Nhật từng bước tăng cường và mở rộng phạm vi hoạt động của Lực lượng phòng vệ.

Tháng 1 năm 2007 Quốc hội Nhật Bản thông qua quyết định thành lập Bộ quốc phòng trên cơ sở Cục Phòng vệ trước đây là bước tiến mới theo hướng giải thích lại hiến pháp và cho phép Nhật phòng thủ tập thể đưa quân ra nước ngoài trong các chiến dịch giữ gìn hoà bình giải quyết các xung đột khu vực.

[sửa] Dân số

Nhật Bản hiện là nước đứng đầu về nơi có ít người nước ngoài sinh sống nhất trong G7[46]

Dân số Nhật Bản ước tính khoảng 127 4 triệu người[47] phần lớn là đồng nhất về ngôn ngữ và văn hóa ngoại trừ thiểu số những công nhân nước ngoài Zainichi Hàn Quốc Zainichi Trung Quốc người Philippines người Nhật gốc Brasil. Tộc người chủ yếu là người Yamato cùng với các nhóm dân tộc thiểu số như Ainu hay Ryūkyūans.

Nhật Bản là một trong những nước có tuổi thọ dân số cao nhất thế giới trung bình là 81 25 tuổi cho năm 2006[48]. Tuy nhiên dân số nước này đang lão hóa do hậu quả của sự bùng nổ dân số sau Thế chiến thứ hai. Năm 2004 19 5% dân số Nhật trên 65 tuổi[49].

Biểu đồ tuổi thọ dân số Nhật Bản
Thống kê hiện tại (2004)
Đơn vị: nghìn người

Tuổi Số lượng
0 - 4t Hình:g50.pngHình:g01.pngHình:g01.png 5735
5 - 9 Hình:g50.pngHình:g03.pngHình:g01.png 5938
10 - 14 Hình:g50.pngHình:g05.png 6060
15 - 19 Hình:g50.pngHình:g10.pngHình:g01.png 6761
20 - 24 Hình:g50.pngHình:g10.pngHình:g10.png 7725
25 - 29 Hình:g50.pngHình:g30.png 8755
30 - 34 Hình:g50.pngHình:g30.pngHình:g05.pngHình:g03.pngHình:g01.png 9819
35 - 39 Hình:g50.pngHình:g10.pngHình:g10.pngHình:g05.pngHình:g03.pngHình:g01.png 8662
40 - 44 Hình:g50.pngHình:g10.pngHình:g10.pngHình:g01.pngHình:g01.png 7909
45 - 49 Hình:g50.pngHình:g10.pngHình:g10.pngHình:g01.png 7854
50 - 54 Hình:g50.pngHình:g30.pngHình:g05.png 9300
55 - 59 Hình:g50.pngHình:g30.pngHình:g05.pngHình:g03.png 9640
60 - 64 Hình:g50.pngHình:g10.pngHình:g10.pngHình:g05.pngHình:g03.pngHình:g01.png 8652
65 - 69 Hình:g50.pngHình:g10.pngHình:g05.pngHình:g01.pngHình:g01.png 7343
70 - 74 Hình:g50.pngHình:g05.pngHình:g03.pngHình:g01.png 6466
75 - 79 Hình:g30.pngHình:g10.pngHình:g05.pngHình:g01.png 5098
trên 80 Hình:g50.pngHình:g03.pngHình:g01.png 5969

Biểu đồ tuổi thọ dân số Nhật Bản
Thống kê hiện tại (2004)
Theo giới tính (Đơn vị: nghìn người)

Nam Tuổi Nữ
2943 Hình:g10.pngHình:g10.pngHình:g05.pngHình:g01.png 0 - 4t Hình:r10.pngHình:r10.pngHình:r05.png 2792
3040 Hình:g10.pngHình:g10.pngHình:g05.pngHình:g01.pngHình:g01.png 5 - 9 Hình:r10.pngHình:r10.pngHình:r05.pngHình:r01.png 2898
3105 Hình:g10.pngHình:g10.pngHình:g05.pngHình:g03.png 10 - 14 Hình:r10.pngHình:r10.pngHình:r05.pngHình:r01.pngHình:r01.png 2955
3466 Hình:g30.pngHình:g01.png 15 - 19 Hình:r30.png 3295
3955 Hình:g30.pngHình:g05.pngHình:g01.png 20 - 24 Hình:r30.pngHình:r03.pngHình:r01.png 3770
4461 Hình:g30.pngHình:g10.png 25 - 29 Hình:r30.pngHình:r05.pngHình:r03.pngHình:r01.png 4294
4960 Hình:g30.png