tìm hiểu về Nhật Bản nguồn từ: Wikipedia

Văn hoá

Bài chi tiết: Văn hóa Nhật Bản
 
 
Búp bê trong lễ hội Hinamatsuri - lễ hội búp bê Nhật Bản dành cho các bé gái được tổ chức vào ngày 3 tháng ba hàng năm. Hàng trên cùng: Hoàng đế(O-dairi-sama) và Hoàng hậu (O-hina-sama). Hàng thứ hai: Ba nữ cận thần (san-nin kanjo) có nhiệm vụ dạy dỗ cho hoàng tử hay công chúa. Hàng thứ ba: Ngũ xướng âm (go-nin bayashi) gồm Trống đại Trống tiểu Trống tay Sáo Ca. Hàng thứ tư: Tả đại thần (Sadaijin)(già) và Hữu đại thần (Udaijin)(trẻ). Hàng thứ năm: Đội nha dịch gồm Tiếu nha (waraijougo) (vui) Khấp nha (nakijougo) (buồn) và Nộ nha (okorijougo) (giận)

Văn hoá Nhật Bản là một trong những nền văn hóa đặc sắc nhất thế giới văn hóa Nhật đã phát triển mạnh mẽ qua thời gian từ thời kỳ Jōmon cho tới thời kỳ đương thời mà trong đó chịu ảnh hưởng cả từ văn hóa châu Á châu ÂuBắc Mỹ. Nghệ thuật truyền thống Nhật Bản bao gồm các nghành nghề thủ công như ikebana origami ukiyo-e đồ chơi đồ gỗ sơn màigốm sứ; các môn nghệ thuật biểu diễn như bunraku nhảy kabuki rakugo ngoài ra còn phải kể đến những nét đặc sắc truyền thống khác như trà đạo Budō kiến trúc vườn Nhật và cả gươm Nhật. Ẩm thực Nhật Bản hiện nay là một trong những nền ẩm thực nổi tiếng nhất trên thế giới.

Sự kết hợp của nghệ thuật in khắc gỗ truyền thống với văn hoá phương Tây đã dẫn đến sự ra đời của Manga một thể loại truyện tranh nổi tiếng cả trong và ngoài nước Nhật[58] . Sự ảnh hưởng của Manga đến thể loại hoạt hình đã dẫn đến sự phát triển thể loại hoạt hình đặc trưng của Nhật có tên gọi là Anime nhờ sự phát triển vũ bão của Manga và Anime mà các trò chơi game video của Nhật cũng phát triển mạnh mẽ từ thập niên 1980 [59].

Âm nhạc của Nhật Bản đã mượn nhiều nhạc cụ và phong cách từ các quốc gia láng giềng và phát triển thêm các nét đặc trưng của Nhật điển hình như đàn Koto được giới thiệu vào Nhật từ thế kỷ thứ 9 và 10 hay như thể loại kịch từ thế kỷ 14 và âm nhạc dân gian đại chúng với những cây đàn như shamisen được truyền bá tới Nhật từ thế kỷ 16[60]. Âm nhạc phương Tây được giới thiệu vào Nhật cuối thế kỷ 19 giờ đã trở thành một phần nội tại quan trọng trong văn hoá Nhật Bản. Nước Nhật thời hậu chiến tranh thế giới thứ hai bị ảnh hưởng nặng nề bởi âm nhạc Mỹ và âm nhạc hiện đại châu Âu điều này đã dẫn đến sự phát triển của dòng âm nhạc gọi là J-pop.[61]

Karaoke là hoạt động văn hoá phổ biến nhất ở Nhật. Từ tháng 11 năm 1993 cơ quan các hoạt động văn hoá đã tiến hành một cuộc thăm dò kết luận rằng có nhiều người Nhật hát Karaoke hơn là tham gia vào các hoạt động văn hoá truyền thống như triết hoa hay trà đạo.[62]

Hanami dango là một loại bánh gạo làm từ bột gạo giống như mochi (một loại bánh khác cũng làm từ gạo). Thường được dùng với trà trong những buổi thưởng ngoạn hoa anh đào của người Nhật.

Các tác phẩm đầu tiên của văn học Nhật Bản bao gồm hai cuốn sách lịch sử KojikiNihon Shoki cũng như tập thơ từ thế kỷ thứ 8 Man yōshū tất cả đều được viết bằng Hán tự[63]. Vào giai đoạn đầu của thời kỳ Heian hệ thống kí tự kana (HiraganaKatakana) ra đời. Cuốn tiểu thuyết The Tale of the Bamboo Cutter được coi là tác phẩm kí sự lâu đời nhất của Nhật[64]. Một hồi ký về cuộc đời trong cung cấm được ghi trong cuốn The Pillow Book viết bởi Sei Shōnagon trong khi Truyện kể Genji của Murasaki Shikibu thường được coi là tiểu thuyết đầu tiên trên thế giới. Trong thời kỳ Edo văn học không thực sự phát triển trong giới Samurai như trong tầng lớp người chōnin. Yomihon là một ví dụ đã trở nên nổi tiếng và tiết lộ sự thay đổi sâu kín này trong giới độc giả cũng như tác giả thời kỳ này[64]. Thời kỳ Minh Trị chứng kiến một giai đoạn đi xuống trong các thể loại văn học truyền thống của Nhật trong thời kỳ này thì văn học Nhật chịu nhiều ảnh hưởng từ văn học phương Tây. Natsume SōsekiMori Ōgai được coi là những văn hào tiểu thuyết "hiện đại" đầu tiên của Nhật tiếp đó có thể kể đến Akutagawa Ryūnosuke Tanizaki Jun ichirō Yasunari Kawabata Yukio Mishima và gần đây hơn là Haruki Murakami. Nhật Bản có hai nhà văn từng đoạt giải Nobel là Yasunari Kawabata(1968) và Kenzaburo Oe (1994).[64]

[sửa] Di sản văn hóa UNESCO

Địa điểm các di sản văn hóa thế giới của Nhật Bản
  • Chùa Hōryū (法隆寺 Hōryū-ji Pháp Long tự) là một ngôi chùa ở Ikaruga huyện Nara. Tên đầy đủ là Pháp Long Học Vấn Tự (法隆学問寺 Hōryū Gakumonj) được biết đến với tên như vậy do đây là nơi vừa như một trường dòng vừa là một tu viện. Ngôi chùa được biết đến như một trong các kiến trúc bằng gỗ có tuổi thọ cao nhất thế giới và là một nơi linh thiêng nổi tiếng ở Nhật Bản[65][66]. Vào năm 1993 được ghi tên vào "Các thắng cảnh di sản thế giới được UNESCO công nhận" và được chính phủ xếp loại di sản quốc gia.
  • Gusuku là từ của người Okinawa nghĩa là "lâu đài" hay "pháo đài". Viết bằng Kanji theo nghĩa "lâu đài" 城 phát âm là shiro[67]. Có nhiều Gusuku và các di sản văn hóa ở Ryukyu đã được UNESCO tặng danh hiệu Di sản văn hóa thế giới.
  • Thành Himeji (姫路城 Himeji-jō?) là một khu phức hợp gồm 83 toà nhà bằng gỗ tọa lạc trên một khu vực đồi núi bằng phẳng ở huyện Hyogo[68]. Thường được biết đến với tên Hakurojo hay Shirasagijo (Lâu đài hạc trắng) do được sơn phủ một lớp màu trắng tinh xảo bên ngoài. Được vinh dự là kì quan đầu tiên được UNESCO công nhận và là Di sản văn hóa Nhật Bản đầu tiên (tháng 12/1993). Một trong ba lâu đài đón khách viếng đông nhất ở Nhật cùng với tòa lâu đài Matsumoto và Kumamoto.
  • Khu tưởng niệm Hòa bình Hiroshima thường được gọi là Mái vòm nguyên từ (原爆ドーム Genbaku Dome)[69]Hiroshima là một phần của Công viên tưởng niệm hòa bình Hiroshima. Vào năm 1996 được UNESCO công nhận di sản thế giới.
  • Các công trình kiến trúc lịch sử cố đô Kyoto nằm rải rác 17 địa điểm trong đó ba công trình ở Kyoto Ujin thuộc phủ KyotoOtsuhuyện Shiga[70]. Gồm có 3 chùa phật giáo 3 đền Thần đạo và một lâu đài. Riêng 38 cơ sở kiến trúc được chính phủ liệt vào danh sách Di sản quốc gia 160 kiến trúc khác vào danh sách Các công trình văn hóa quan trọng. Tám khu vườn thắng cảnh đặc biệt và bốn với Thắng cảnh đẹp. Công nhận năm 1994.
  • Các công trình lịch sử Nara cổ.
  • Làng lịch sử Shirakawa-go và Gokayama trên thung lũng sông Shogawa trải dài từ ranh giới huyện GifuToyama phía Bắc Nhật Bản[71]. Shirakawa-go (白川郷 "Sông ánh bạc") tọa lạc ở khu làng Shirakawa huyện Gifu. Năm ngọn núi Gokayama (五箇山) bị chia cắt giữa khu làng cũ KamitairaTairaNanto tỉnh Toyama.
  • Thần xã Itsukushima (厳島神社 Itsukushima Jinja) là một ngôi đền Shinto trên đảo Itsukushima (tên cũ là Miyajima) ở thành phố Hatsukaichi huyện Hiroshima[72]. Một vài công trình tại đây cũng được chính phủ cho vào danh sách "Di sản quốc gia".
  • Mỏ bạc Iwami Ginzan (石見銀山 Iwami Ginzan?) là một khu vực khoáng sản tại thành phố Oda huyện Shimane thuộc đảo Honshu[73]. Được UNESCO ghi tên năm 2007.
  • Dãy núi Kii hay bán đảo Kii (紀伊半島 Kii Hantō?)[74] - một trong các bán đảo lớn nhất ở Honshu.
  • Vùng núi Shirakami (白神山地 Shirakami-Sanchi?) (Địa hạt của thần) nằm ở bắc Honshu. Các ngọn núi này trải dài vững chắc theo các khu rừng nguyên thủy từ huyện Akita đến Aomori[75]. Tổng cộng 1. 300 km² trong đó 169 7 km² được vào danh sách UNESCO.
  • Vườn quốc gia Shiretoko (知床国立公園 Shiretoko Kokuritsu Kōen?) chiếm phần lớn bán đảo Shiretoko ở tận cùng đông bắc đảo Hokkaido[76] theo người Ainu nghĩa là "Nơi tận cùng Trái Đất". Một trong các cơ sở tôn giáo hẻo lánh nhất của Nhật. Công viên cũng là nơi cư ngụ của loài gấu lớn nhất Nhật Bản có thể trông thấy khu đảo tranh chấp Kunashiri từ đây. Ngoài ra công viên còn có thác nước nóng Kamuiwakka-no-taki. Theo người Ainu đây là dòng nước của các vị thần. Được công nhận vào năm 2005 cùng với một phần đảo Kuril do Nga kiểm soát.
  • Nikko (日光市 Nikkō-shi? "ánh nắng") là một thành phố nằm trên vùng đồi núi thuộc huyện Tochigi. Cách Tokyo 140 km về phía bắc và gần 35 km về phía tây của Utsunomiya thủ phủ của Tochigi nơi quàng lăng tẩm của Tướng quân Tokugawa Ieyasu (Nikko Tosho-gu) và người cháu trai Iemitsu (Iemitsu-byo Taiyu-in) cùng khu đền Futarasan. Shodo Shonin lập đền Rinno vào 782 theo sau không lâu là Đền Chuzen-ji năm 784 bao quanh là làng Đền chùa Nikkō. Đền của Nikko Tosho-gu được hoàn tất vào 1617 là một trong các nơi đón khách hành lễ đông nhất thời Edo. Nikko Tosho-gu Đền Futarasan và Rinno-ji hiện cũng là Di sản được UNESCO công nhận[77].
  • Yakushima (屋久島 Yakushima?) là một đảo diện tích 500 km² và gần 15.000 cư dân nằm về phía nam của Kyushuhuyện Kagoshima[78] bị chia cắt khỏi Tanegashima bởi eo biển Vincennes với ngọn núi cao nhất của đảo Myanoura 1.935 m. Được vây quanh bởi rừng rậm dày đặc đặc trưng với cây thông liễu (ở Nhật gọi là Sugi) và nhiều họ cây đỗ quyên.

[sửa] Hình ảnh

[sửa] Thể thao

Bài chi tiết: Thể thao Nhật Bản
Sumo một môn võ truyền thống của Nhật Bản.

Về truyền thống Sumo được coi là môn thể thao quốc gia của Nhật Bản và là một trong những môn thể thao có lượng người xem lớn nhất tại Nhật[79]. Các môn võ như judo karatekendō cũng phổ biến và được tập luyện rộng rãi khắp đất nước. Sau thời kỳ Minh Trị rất nhiều môn thể thao phương Tây đã du nhập vào Nhật và lan truyền nhanh chóng trong hệ thống giáo dục.[80]

Giải Bóng chày Nhật Bản được thành lập năm 1936[81]. Ngày nay bóng chày là môn thể thao có lượng người xem lớn nhất tại quốc gia này. Một trong những cầu thủ bóng chày nổi tiếng nhất của Nhật là Ichiro Suzuki người đã từng dành danh hiệu cầu thủ đáng giá nhất Nhật Bản các năm 1994 1995 1996 và hiện đang chơi cho giải bóng chày Bắc Mỹ (tên tiếng Anh: Major League Baseball).

Từ khi có sự thành lập Giải bóng đá chuyên nghiệp Nhật Bản năm 1992 môn thể thao này cũng đã nhanh chóng phát triển mạnh mẽ[82]. Nhật Bản là nước tổ chức Cúp bóng đá liên lục địa từ năm 1981 tới 2004 và là nước đồng chủ nhà World Cup 2002 với Hàn Quốc. Đội tuyển bóng đá quốc gia Nhật Bản là một trong những đội bóng thành công nhất ở châu Á với ba lần dành chức vô địch cúp bóng đá châu Á. Nhật Bản là quốc gia đầu tiên ở châu Á tổ chức một kỳ Thế vận hội đó là Thế vận hội Mùa hè 1964 tổ chức tại Tokyo.

Golf[83] đua ô tô giải đua ô tô Super GTFormula Nippon[84] cũng là những môn thể thao nổi tiếng ở Nhật. Đường đua Twin Ring Motegi được Honda hoàn thành xây dựng năm 1997 để đưa môn đua công thức 1 tới Nhật.

[sửa] Chính sách đối ngoại

Thủ tướng Yasuo Fukuda tại hội nghị thường niên của Diễn đàn kinh tế thế giới 2008 nhóm họp ở Davos Thụy Sĩ.

Từ sau Chiến tranh Lạnh Nhật Bản bước vào thời điểm bước ngoặt điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng tăng cường tính độc lập chủ động và tích cực hơn nhằm vươn lên thành cường quốc chính trị tương xứng với sức mạnh kinh tế phát huy vai trò và ảnh hưởng trên thế giới và vùng Châu Á - Thái Bình Dương. Theo đó chính sách đối ngoại được triển khai theo 5 hướng cơ bản là:

  • Giải quyết hòa bình các cuộc xung đột khu vực.
  • Giải trừ quân bị và không phổ biến vũ khí hạt nhân.
  • Duy trì phát triển kinh tế thế giới.
  • Hợp tác với các nước đang phát triển và các nước đang trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế.
  • Giải quyết các vấn đề toàn cầu.

Mặc dù vẫn lấy quan hệ Nhật-Mỹ làm nền tảng chính sách đối ngoại[85] song gần đây Nhật Bản tăng cường chiến lược "Trở lại châu Á" phát huy vai trò người đại diện cho châu Á trong Khối G8 lấy châu Á làm bàn đạp để từng bước đưa Nhật Bản trở thành cường quốc về chính trị; thúc đẩy cải cách Liên Hiệp Quốc thực hiện mục tiêu trở thành thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc thô