Văn chương Nam Bộ nhìn từ xa- khảo luận của nhà văn Văn Chinh

Con Tím chờ đợi anh Hai Đực của nó từ trại cải huấn lính ngụy trở về nó đã chờ lâu lắm đến thành ám ảnh mộng mị. Nỗi ám ảnh này rồi ra có thể trói thắt tâm hồn Tím đến sài đẹn khi đằng này thì ông Tám và làng xóm lôi kéo Hai Đực từ chỗ vượt biên trở về đằng kia Tư Đen kiên quyết trả mối tình thù cũ bởi út Kiều chỉ yêu Hai Đực; vu oan giá họa đòi chặt đầu anh mà lại nhân danh chính quyền cách mạng. Tôi hú hồn cho tác giả nhưng đằng sau Hồ Tĩnh Tâm có cả một nhân dân đã giúp anh đi yên ổn trên sợi dây thép.

 

 


Mô tả ảnh.
Văn xuôi Nam Bộ nhìn từ xa

 

Có thể có bạn bắt bẻ rằng đất nước thống nhất đã lâu lại ở vào thời đại bùng nổ thông tin mọi phát triển kinh tế văn hóa đều được truy cập hàng ngày bây giờ chia văn học ra vùng này miền nọ là không cần thiết. Văn học là hàng hóa đặc biệt nó cần đặc biệt trong “lưu thông”. Tôi có thể biếu không cuốn sách gửi in không lấy nhuận bút một truyện ngắn nhưng vấn đề là anh phải coi trọng nó. Một lời đã biết đến ta/ Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau. Một khi anh đã cửa quyền đã cánh hẩu đã cục bộ anh sẽ được “quên đi”; nghề này kỵ cố đấm ăn xôi; nghề này khác vũ nữ ở chỗ không ấm ức trước các đôi mắt... đen. Mặt khác muốn làm rõ diện mạo văn học cả nước lại cần khảo luận kỹ văn học từng vùng đất. Mặc dù vậy cũng không có tiểu luận này nếu trong Đại hội Hội Nhà văn lần thứ VI vừa qua chúng tôi lại không được cho nhiều sách đến thế và tỷ lệ truyện ngắn hay lại không cao đến thế. Tôi đọc mê mải càng đọc càng thích thú có cảm giác mình đã “phát hiện” ra diện mạo của một văn xuôi Nam Bộ khác hẳn những gì trước đó đã hình dung; khác đến mức làm thay đổi hẳn quan niệm “Văn Bắc báo Nam” vốn từ lâu tôi vẫn mặc nhiên thừa nhận.

Với chữ quốc ngữ văn học thế kỷ XX đột khởi phát triển tỷ trọng ở văn xuôi cao hơn nhiều so với thơ vốn sâu gốc bền rễ từ thế kỷ thứ XI. Tỷ trọng ấy càng cao ở văn xuôi Nam Bộ đã đi từ hầu như không có gì đến các tác giả lẫy lừng Trương Vĩnh Ký Huỳnh Tịnh Của Hồ Biểu Chánh... Sau năm 1954 hàng loạt tác giả gốc Nam Bộ tốt tươi trên đất Bắc : Đoàn Giỏi Bùi Đức Ái (Anh Đức) Nguyễn Quang Sáng... cùng với các nhà văn “nằm vùng” : Lý Văn Sâm Sơn Nam Trần Bạch Đằng Trang Thế Hy... Họ đã có thể ngồi cùng chiếu với các danh sĩ Bắc Hà. Sau đó và nhất là sau năm 1975 các nhà văn từ R về từ miền Bắc hồi hương hoặc thuyên chuyển khiến văn xuôi miền Nam lại một lần nữa tăng trưởng đột biến lần này mang tính “cơ giới”. Đầu thập kỷ 80 văn xuôi Nam Bộ dường như đã một lúc có tới ba nhà văn lớn : Nguyễn Mạnh Tuấn Nhật Tuấn Trần Văn Tuấn mà báo chí đương thời coi là Tam Tuấn kiệt trong văn xuôi. Thế rồi cũng báo chí với tập quán chỉ lăng-xê những cuốn sách gần với nó biến văn học thành cận văn học (para literatur) rồi thản nhiên cho qua hai rưỡi Tam Tuấn kiệt. Nửa còn lại nền phê bình “có vấn đề” cho qua nốt đó là sự im lặng trước một tiểu thuyết hay Đi về nơi hoang dã.

Các nhà văn học sử hẳn sẽ phải chia giai đoạn sau 1975 làm hai thời kỳ trước và sau hai tiểu thuyết Cù lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn và Chân dung một quản đốc của Trần Bạch Đằng ký bút danh Nguyễn Hiểu Trường. Sau cảm hứng chiến thắng bi hùng văn xuôi vào cuộc với bàn bạc và sản xuất mong cứu vãn đời sống đạo đức cứ mỗi ngày một xuống dốc - hai cảm hứng sau sẽ chín dần rồi bắt nhịp rồi hoà nhịp vào văn học đổi mới sau đó vài năm với Bè trầm của Nguyễn Trọng Tín. Cho đến nay Nguyễn Trọng Tín được biết đến như là nhà thơ nhưng Bè trầm vẫn níu ông ở lại làm vai trò khai cuộc “cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đương sắp sửa” của văn xuôi Nam bộ.

Vâng phạm  trù văn xuôi Nam bộ ở đây xin được hiểu là sau Bè trầm trở đi. Chúng tôi nghĩ rằng các nhà văn lớp trước : Lý Văn Sâm Sơn Nam Trần Bạch Đằng Trang Thế Hy Anh Đức Nguyễn Quang Sáng... đã có một phong cách ổn định đã ở chiếu trên và đã được nói đến trong rất nhiều bài viết; họ không cần bất cứ ai khẳng định thêm. Mặt khác nói văn xuôi nhưng thực là nói truyện ngắn bởi hơn 10 năm qua vùng đất đã từng có một nhà tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh lại có nhiều tác giả xuất sắc về truyện ngắn hơn. Bốn tiểu thuyết Bè trầm Lời nguyền hai trăm năm (Khôi Vũ) Đi về nơi hoang dã (Nhật Tuấn) và Một ngày và một đời (Lê Văn Thảo) có đóng góp rất nhiều về thi pháp văn xuôi xin sẽ được trở lại vào một dịp khác. Ở đây nếu so sánh giữa hai thể loại của chỉ một Lê Văn Thảo thì chỉ hai truyện ngắn Ông cháu và con người chủ cũ Người Sài Gòn đã bỏ xa tiểu thuyết của chính ông. Mà tôi đang có tác phẩm của cả chục tác giả so với ông là cùng hội cùng thuyền : Phạm Trung Khâu Trần Kim Trắc Phan Thị Vàng Anh Hào Vũ Nguyễn Trọng Nghĩa Nguyễn Đức Thọ Hồ Tĩnh Tâm Phan Triều Hải Nguyễn Lập Em (… ).

Các nhà văn Nam bộ viết gì?

Chúng ta biết rằng đề tài đóng góp rất ít cho giá trị văn chương rằng các nhà văn chỉ mượn đề tài như con xuồng tam bản chở ta đến bến bờ của con người nói chung. Nhưng nó - đề tài lại tạo ra diện mạo ra thế giới tâm hồn của tác giả nó là cái để nhà văn giả nợ môi sinh. Nối thế giới tâm hồn của tốp-ten nhà văn kia ta sẽ có một Nam bộ được bao phủ hết bởi thương yêu bởi cái đẹp. Từ đường phố Sài Gòn đã trơ mòn đá lát đến hòn đảo Sơn Rái còn chưa có tên trên bản đồ từ miền đông ồn ào đến miền tây biên viễn với tứ giác miệt vườn ở giữa... đều đã được tái hiện bằng các trang văn tinh tế mà hồn nhiên kỳ lạ mà giản dị.

Đề tài rộng khắp nhưng các truyện ngắn Nam bộ chủ yếu quan tâm ba lĩnh vực : (1) Dư âm chiến trường (2) Kẻ thù hôm qua - hàng xóm hôm nay (3) Đất và người vẫn đất và người cũ nhưng nhịp điệu cuộc sống đã khác đến phải hoài niệm  Ở Ngũ viên mà nhớ Ngũ viên. Chính (1) và (2) đã khiến văn xuôi Nam bộ khác hẳn với văn xuôi miền Bắc. Trong các tác phẩm hậu chiến ngoài này cùng lắm là bi kịch màu da cam là anh lính trở về người yêu đi lấy chồng hay vợ trót lỡ là bất mãn trước cán bộ địa phương tham nhũng bất công.

Lâu nay có một nhận định hầu trở nên quen thuộc : Nền văn học ta còn thiếu những tác phẩm lớn mang tính sử thi xứng đáng với sự nghiệp kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Quả thật đây là món nợ khó trả. Nhưng theo lời khuyên của một thành ngữ Pháp : “Nếu chưa có những cái đáng yêu thì hãy yêu những gì đã có” tôi thấm thía khi đọc các truyện ngắn Nam bộ nơi bom đạn cày xới mảnh đất vẫn chưa hàn thổ xong : Chờ một cánh chim Điều còn lại sau chiến tranh Tiếng vạc sành (Phạm Trung Khâu) Về Cần Thơ gặp cháu gái Bà nội Người Sài Gòn (Lê Văn Thảo) Thời gian Hôm qua và hôm nay (Hồ Tĩnh Tâm) Mùa trái cây (Nguyễn Đức Thọ) Truyện viết được một nửa (Nguyễn Trọng Nghĩa)... Để có thể yên tâm đi sâu vào các chỉnh thể nghệ thuật vừa kể cần thỏa thuận điều này: mỗi thể tài có một thước đo khác nhau đối với các nhà nghiên cứu còn với bạn đọc thước đo của họ là hay dở là bảy mươi trang Số phận một con người (Sôlôkhốp) đánh đổ hơn nghìn trang Cơn bão táp (Ê-ren-bua) ngay cả về mặt sử thi của chúng.

Tiếng vạc sành đã được giải thưởng cao được nhiều người nói tới trong đó có bậc đại bút Nguyễn Khải với lời văn vồn vã. Ở đây chỉ xin nói thêm một câu : Nói về chiến tranh ác liệt ác liệt đến mức vợ không còn nhận được mặt chồng nhưng truyện ngắn đã được viết ra chỉ với mục đích gói lại (lòng người Việt ta lạ thế!) và gói lại bằng cách thần tình là đẩy sự thực khốc liệt về với huyền thoại. Cũng với bút pháp ấy nhưng Chờ một cánh chim có xu thế ngược lại. Ông cháu người trong truyện không tên vậy có thể là anh là tôi. Cháu ốm liệt chơi với con chim bồ câu trong khi chờ người ông đi mua thuốc đi chạy tiền mua đồ ăn và chờ người cha về từ cuộc chiến tranh biên giới. Rồi cả ông và cháu đều lần lượt ra đi. Truyện không gây thù hận chỉ làm ta tê tái buồn mà khi buồn ta mới đủ lớn để ôm trùm thiên hạ. Truyện kết thúc : “Người ta tìm thấy trong túi người ông có một lá thư tình gói trong giấy dầu cẩn thận chữ viết đã vàng ố giấy bị rã nhiều chỗ vì quá lâu nguyên lá thư chỉ còn đọc được vài câu: ... Nàng ôi! Biết bao giờ quê hương hết cơn binh đao. Ta nguyện về cùng nàng cày cấy có nhau... ”. Vâng tình yêu cao quý bất tử và bất chấp bom đạn mới thực là cánh chim mà con người chờ đợi. Điều còn lại sau chiến tranh thì như tên truyện nó trần trụi như nhân vật bé Sử chuyên mặc quần cộc đầy ẩn dụ. Ba thằng Sử đi mua cái mũ sắt về làm gầu múc nước phân tưới vườn Sử đem chơi đội lên làm lính dọa bà bà bị sốc vì nó gắn với một tội ác của giặc rồi bà ốm. Ba Sử bảo con xin lỗi ngoại. Sử bảo không nó cho rằng nó không có lỗi. Nói chung mỗi truyện ngắn của Phạm Trung Khâu đều ngắn như một tia chớp nhưng sau đó là cả một trời mây vần vụ tích hợp giông bão cho cảm xúc trong lòng người.

Đành rằng văn hay thì trong câu phải có câu ngoài truyện phải có truyện nhưng vận vào Mùa trái cây của Nguyễn Đức Thọ xem ra thật đắc địa. Chất sau chiến tranh bận công việc mãi sau này mới vào thăm mộ chồng. Trong chiến tranh anh sống trong tình mẹ con của má Cỏn trong tình yêu cụ thể của út Mai - con má; anh nằm xuống trong vườn của má và để lại đứa con trai hiện đang lộc ngộc lớn. Giờ đang bình yên đang mùa trái cây nhưng rồi mai Chất sẽ về ngoài quê ngay cả hài cốt chồng cũng không nỡ mang về nữa. Vâng chiến tranh ngoài cái ác liệt của nó còn có tình yêu trai gái và đó chính là đặc điểm của một chiến tranh kéo quá dài. Ở Truyện viết được một nửa của Nguyễn Trọng Nghĩa chủ đề ấy được khai triển thơ mộng hơn nhiều nếp gấp hơn; nó bổ túc một lối nhìn đơn giản trước đó. Tôi chỉ không thích ở chỗ nó vẫn còn nhiều lời như sẽ không thích sự rào đón ở hai truyện liền sau của Hồ Tĩnh Tâm tuy rằng tác giả này có thể được thể tất bởi số phận các nhân vật bị chiến tranh quăng quật dữ hơn.

Huyền người đàn bà bốn mươi đẹp một vẻ đẹp đang vào độ chín. Thế mà phải chỉ lên bàn thờ bảo khách hai đứa đầu là con anh bên trái bốn đứa này là con anh bên phải; anh bên trái là liệt sĩ ta còn chưa được công nhận anh bên phải là cảnh sát ngụy đã chết một mình nheo nhóc nuôi con “hai đứa lớn lấy chồng mịt mờ mãi xứ U-minh nước đen nước đỏ”. Thế rồi bạn bè cũ của chồng gần đây mới minh chứng xong cho chị là con liệt sĩ là vợ liệt sĩ bản thân thì có công. Vậy đấy nhưng Huyền không oán hận gì sau mấy mươi năm lam lũ nuôi đàn con nheo nhóc giờ lại chỉ nói “Số tôi là số sát chồng”. Huyền bỗng đẹp như đất đai dù nó có thời là bãi chiến trường. Như Huyền Bà nội (Lê Văn Thảo) cũng sức vóc cũng đẹp bà nội quần quật làm ruộng nuôi hết con đến cháu ăn học rồi tản cư tuốt trên Sài Gòn hở ra hột nào thì hết cúng cho Tây đồn lại cơm rượu cho đồng đội của thằng cháu du kích rồi còn ngày ngày chịu mưa bom bão đạn mà vẫn đẹp như cổ tích.

Thực ra (1) và (2) tuy hai mà một chia ra cho gẫy gọn cho dễ nói thế thôi. Tôi cứ hình dung: bãi chiến trường xưa dần hàn thổ kẻ thù hôm qua hàng xóm hôm nay xa dần mặc cảm đến độ sống hồn nhiên với nhau thì đất đai mới thật là trinh nguyên trở lại. Quá trình ấy cần thiên chức nhà văn hơn là một luật sư lắm điều. Dẫu biết đây là điều cực khó nhưng các nhà văn Nam Bộ không những không né tránh mà còn chọn nó để lập nghiệp. Và đó trước hết là nhân cách của người chiến thắng.

Trong truyện Người ở miệt vườn (Nguyễn Đức Thọ) Ba Nghĩa và Hai Tín trước khi trở thành ta địch là bạn và đều do bà Hai Phấn cắt rốn chôn nhau. Khi Nghĩa vào lính Tín đi bộ đội địa phương tìm bắn nhau tìm cách tránh nhau Nghĩa bắn tin tránh tai họa cho Hai Tín đều qua má Phấn (lại mô típ mẹ). Thế rồi giờ đây cả hai tối ngày nhậu vì buồn vì đói cực; nhậu rồi ôm nhau hát đến mức đám vợ con nheo nhóc phải biểu tình nhiều lần vẫn im lặng đáng sợ. Sau họ phải cậy đến má Hai Phấn thì Tín Nghĩa mới cun cút theo đám “biểu tình” ra về trong trật tự. Truyện ngắn hay như một làn dân ca hát bởi một thôn nữ đẹp trên đồng lúa đương thì con gái đã không còn thấy bờ.

Cùng với mô-típ ấy Người cùng làng (Hồ Tĩnh Tâm) bóc tách hơn dữ dội hơn để rồi bi kịch của kẻ lạc đường hiện ra ở khía cạnh bất ngờ nhất : Chà tên ác ôn giết anh trai của út giờ nhà nghèo bệnh trọng lão đầy tớ quốc tế này hóa ra cũng nghèo biết làm sao vì thầy lão chiến bại. Út buôn bán buôn gian bán lậu qua biên giới và trở nên giàu có; quay lại trợ cấp cho Chà đi bệnh viện mổ xẻ lúc nào có thì trả. Chính tình thương mới đủ phẩm chất làm dải băng vô trùng băng bó vết thương cũ mỗi khi bùng phát. Độ vững vàng của bút pháp Hồ Tĩnh Tâm giúp anh đi qua hiểm nghèo của truyện Chờ đợi. Con Tím chờ đợi anh Hai Đực của nó từ trại cải huấn lính ngụy trở về nó đã chờ lâu lắm đến thành ám ảnh mộng mị. Nỗi ám ảnh này rồi ra có thể trói thắt tâm hồn Tím đến sài đẹn khi đằng này thì ông Tám và làng xóm lôi kéo Hai Đực từ chỗ vượt biên trở về đằng kia Tư Đen kiên quyết trả mối tình thù cũ bởi út Kiều chỉ yêu Hai Đực; vu oan giá họa đòi chặt đầu anh mà lại nhân danh chính quyền cách mạng. Tôi hú hồn cho tác giả nhưng đằng sau Hồ Tĩnh Tâm có cả một nhân dân đã giúp anh đi yên ổn trên sợi dây thép.

Về nhóm truyện hàn gắn tôi đọc cả chục truyện cái nào cũng mười phần vẹn mười đành bỏ phiếu theo tiêu chuẩn máy móc là: tốn ít chữ nhất để nói xong một điều phức tạp tưởng như nói cả đời cũng không hết để coi Khách thương hồ (Hào Vũ) là hay đệ nhất. Nó vốn được trao giải nhì của Thế giới mới 1993 xếp dưới cái truyện vớ vẩn của Phan Thị Vàng Anh là Hoa muộn. Nó chưa đầy 3 trang in. Không có nhiều chi tiết dường như chỉ có cặp chân gỗ của chàng và nàng va cậc vào nhau lúc ôm nhau trên con thuyền rách. Họ hình như là địch thủ cũ lại có vẻ chỉ chị là thương binh còn anh là tai nạn - dù là thương binh ngụy thì cũng là tai nạn tai nạn chọn đường. Truyện không nói rõ. Lại cũng không nhiều hình ảnh ngoài một mặt hồ phẳng như gương. Và mưa. Mưa làm mờ mặt hồ xóa nhòa mọi ranh giới mọi tai mắt để họ ngã vào niềm ân ái.

Tôi đọc không nhiều văn học hậu chiến. Nhưng đã thấy các dị biệt : Nếu như Đường phố ngoại ô (Giải Gông-cua) cứ thêm mỗi trang lại khiến người đọc thêm hãi hùng dĩ vãng; nếu Dư âm chiến tranh (Giải thưởng quốc gia Liên Xô) nhân vật người mẹ đeo kính cận đi về chiến địa xưa để tìm mộ con tròng kính hắt nắng trong cái nhìn truy bức đốt cháy làm vỡ não một người mẹ bạch vệ thì thấy chùm truyện ngắn Nam bộ tôi vừa đọc con người hơn văn chương hơn. Văn chương chỉ làm những việc quan tòa không làm được báo chí không làm được.

Thực ra xếp những truyện ngắn Nam bộ còn lại vào một nhóm (3) là quá khiên cưỡng. Nhóm này từ con người vùng đất trẻ Nam bộ mà mở vào mênh mông nhân loại. Ở đây có sự dữ dằn hẳn là hậu duệ của tổ tiên đi mở đất; lưỡi phảng chém cá sấu beo cọp xa xưa rồi ra lỡ chém phải con mình trong một tình thế bi thảm khôn lường nhưng tất yếu như một định mệnh của kẻ đâm thuê chém mướn dẫu ban đầu là bởi động cơ hảo hán trong Tiếng thét (Phạm Trung Khâu). Nhân vật của ông thường rất dị biệt. Đó là bà Tư “liên hoan” chuyên vét đồ thừa của tiệc tiền chùa mà đủ bao cho anh hàng xóm thất nghiệp đầu gấu đời cũ xuất thân từng chém lũ đĩ bợm quỵt tiền mà cứu người hiện đang là vợ mình liệt bệnh giang mai độ cuối. Đó là anh Gàn với vợ và đàn con đông đúc lại cứ muốn sắp xếp vào đội hình ra rẫy có trật tự rẫy ăn cơm có thứ tự của ghế bố ghế mẹ con đầu con cuối (Cây bằng lăng bông tím). Đội hình trật tự tất dẫn đến việc hai nhà tạm dùng chung con xuồng kiếm cá để giữ lại cây bằng lăng tuy gốc mọc bên anh mà nửa già bóng mát vẫn trùm góc sân tôi cây ấy bỗng hóa thành người. Trật tự ấy lại cũng tất yếu khiến anh Gàn bươu đầu sứt trán khi can một đám đánh nhau và bởi cả hai bên đòn; rồi ra anh đã chết bởi hút nọc độc rắn cho một cô bé. Cô bé sống còn anh chết đi; để lại một cái ghế trống trong bữa cơm trong vĩnh cửu và một cái ghế sẽ trống bởi đứa con lớn đang vùng vằng đòi bỏ đi hoang ly dị với trật tự cũ. Những truyện của Phạm Trung Khâu khi đã hay thì hay một cách kinh ngạc như thế. Ông cũng dần thuần thục thi pháp kẻ vô hình - đối thoại không rõ ngoại nhập hay nội sinh từ truyện cổ Vọng Phu - nhưng đã riêng ông sở hữu?

Trong loáng thoáng Những mùa gà chọi (Ngô Khắc Tài) là cả một bề dày văn hóa mở đất. Đọc nó lại nhớ Đôi chim thành của bác Kim Lân cứ như thể ký ức thời thiên nhiên còn ưu đãi con người xứ Bắc đã di trú đến xứ sở vẫn rộng dài ưu đãi. Ăn chơi mút mùa lang bạt mãi tận Nam Vang cờ bạc sống không cho bố mẹ vợ con được nhờ chết cũng chẳng lụy phiền ai; chết còn để tiền cho vợ con trang trải với bệnh viện với tang ma để cả tiền chuộc lại ruộng của gia tiên vốn đã bị ông anh chân chỉ lam lũ cả đời mang đi cầm cố. Nhưng khi ký ức đậu xuống đám chọi gà cờ bạc kiểu hiện đại của “tôi” và Thành cùng mấy ông xã ấp thì tan tỏe rời rạc ra và buồn. Ngô Khắc Tài có hai truyện hay nữa: Nhớ khóiChủ tiệm Chạp phô. Nhớ khói hay nhất trong nhóm truyện Ở Ngũ viên mà nhớ Ngũ viên hay đến độ khó chẻ ra mà bình. Chỉ mời đọc đoạn kết : “Bánh xèo bánh khọt thứ gì cũng có bán ở chợ nhưng em ăn không thấy ngon”. “Tao ăn được hết. Anh chồng chưa đi đâu xa lên giọng làm tàng”... “Nhưng ngộ quá mình ơi ở chợ đốt đèn cầy nhang cháy đỏ suốt ngày lại không thấy khói”. “Đèn cầy làm bằng điện tử cũng không biết”.

Ở Chủ tiệm tạp phô cũng nhiều đoạn văn vừa đọc vừa khúc khích lại vừa rưng rưng như thế. Chú khách làm rể bà chủ tiệm vốn là thứ hai người làng hạ chú xuống thành chú Ba; vợ chú người Việt dù là người Việt đẹp cũng thành luôn Trái Dâu Tầu. Đang rờ rỡ ngồi trên đống tiền và được chồng hầu hạ Trái Dâu Tầu phải lòng anh Tư đờn cò vốn là dân cắm quán sổ nợ chỗ tên anh dài như lá sớ. Chết cái là tiếng đờn anh réo rắt quá réo rắt như thư anh gởi lén cho nàng: “Cách bức thơ nhàn cần cho em vài hàng mực. Thương là thương duyên nợ sao khéo lương ương. Em ơi thấy mà tiếc nghĩ lại mà thương. “Các chú” bên Tàu mình là người Nam Việt. Ông tơ nào ăn được đầu heo. Bà nguyệt nào đang xui khiến. Ước của tiền trọng nó hơn thân. Thân ấy trọng hay tiền ấy trọng/ Như nàng là môi không dày không mỏng mũi vừa vừa mắt bồ câu không con nào bay con nào đậu. Còn nhỏ tuổi nàng ơi. Vội chi. Thiếu chi người lục tỉnh Nam Kỳ. Nếu nghe được tiếng đờn xin so dây cùng nhau hơn thiệt. Thơ bất tận ngôn”. Vậy thôi mà một sớm kia thức dậy chú Ba Tầu mất vợ. Chuyện tưởng tung tóe hóa ra không. Chú Ba khóc lóc ăn vạ mẹ vợ đòi lấy cô em thế vào cô chị không xong bèn đợi Trái Dâu Tầu. Trái Dâu Tầu về thật. Chú Ba “Còn giận chớ. Nhưng đây là nhà của nó. Nó còn nhỏ nó đi chơi bời cho lã dồi dề lúc nào cũng lược. Miễn đừng có chửa với người ta ngộ không chịu”. Truyện hồn nhiên như vừa mới bứng vào từ đời sống mà kỹ thuật siêu cường. Ông tôi bảo cái hồn nhiên bao giờ cũng trong sạch và thơm tho khéo mà đúng.

Trong số các nhà văn Nam bộ lạ nhất có nhẽ là ông Trần Kim Trắc. Ông là người tập kết là vốn quý lại là vốn quý văn chương nhưng oái oăm sao đó ông thành dân tự do suốt ba mươi năm nghỉ viết. Vậy mà khi viết lại văn ông hồn nhiên chất phác. Thật khó chọn trong số dăm chục truyện ngắn của ông một cái xuất sắc nhưng cái nào đọc cũng ngon lành chạy trang thun thút. Duyên ấy không từ bút mực. Nó từ vốn dân gian Nam bộ như nguồn phù sa dày nuôi cây lớn vổng vỏ mỡ màng trườn ra ôm khít lấy vết thắt ngẫng sợi dây phơi cũ. Cứ phổng phao hơi xốp một chút nhưng tươi tắn nghĩ sao làm vậy những nhân vật của ông đi giữa sự dễ dãi và hồn nhiên nghệ thuật giữa tình yêu oang oang và phồn thực tưng bừng. Xin nói đến truyện Tư nhiều vì nó đã được in trên Văn nghệ cho tiện. Nó vốn có tên là Ông mìn đù tên mà người miền Bắc đã gọi nhân vật Tư Nhiều một cách thân mật suồng sã. Tư Nhiều tập kết nhưng sao đó mà “tuột xích” ông lên rừng khai phá trồng cam kiếm con cá con tôm hoặc đõ ong rừng. Hậu duệ của cư dân khai phá này có vẻ như không tiến về tương lai nổi thì quay về khai phá sao cũng được nhưng vẫn phải yêu mới chịu. Tôi như nghe Tư Nhiều vỗ đùi : “Phải quá không yêu không đem lại sướng khoái cho bà góa sao gọi được là thằng đàn ông? Ờ thì qua cũng có quấy chút chút chịu chưa?” Nhưng phần còn lại của Tư Nhiều mới thật Tư Nhiều : ông nuôi được vô vàn là tôm ở cái vực trong leo lẻo trên hẽm núi trồng bạt ngàn than rã là cam - Nhiều như ông yêu bà góa rất vô tư ban ngày xiêu lều đổ sàn - nhiều đến phải mấy xe cam nhông của thằng bạn đồng hương làm công tác thương nghiệp coi mòi vào lúc hiếm hàng phân phối đã lên chở mấy ngày mới hết. Tư Nhiều sống trên đất Bắc ở đồi lau sậy mà biến nó thành sum xuê Nam bộ phì nhiêu thật tài.

Cũng có một nhân vật tập kết khác trong Hẻm sâu của Nguyễn Hồ nhưng quái dị hơn. Bố già Năm sau khi “tuột xích” thì lang chạ ở ga Hàng Cỏ lấy mấy bà vợ làm nhiều việc rất khó gọi ra tên. Hôm nay Năm đưa “tôi” đến con hẻm của Sài Gòn đến nơi ông Tư anh ruột trùm bụi đời ở nhưng rất khó gọi được là nhà. “Tôi” nhờ bố già Năm đưa đi tìm cái túi tiền và giấy tờ bị mất cắp; túi không tìm được lại “mất” cái máy ghi âm một cách thần tình bởi bà già tám mươi láu lỉnh và đùa bỡn như một con mèo hóa tinh. Con hẻm ấy sâu lắm sâu như một ký ức bị bỏ sót cư dân ở đây gọi tuốt luốt người đi xa là ở Huế. Nhưng tài năng của cây bút viết phim làm truyện ký này đã phù phép để nó sống dậy vừa thâm u vừa hiện diện vừa bất yên vừa láu lỉnh. Truyện có cấu trúc lạ mất rất ít chữ về bố già Năm nó chỉ như tấm lanh phản quang của kỹ thuật chụp ảnh nhằm làm sáng lên cái góc tối tăm có bà chị dâu láu lỉnh có lão Tư trùm nằm ốm mà theo lão “hết oanh thì phải liệt” nhưng gấp truyện lại thân phận bố già Năm mới hiện ra vừa phức tạp vừa bình dị rất chênh chao lại cũng rất trường cửu.

Khác với không gian truyện của Trần Kim Trắc chỉ dừng ở ký ức gần ở thời chống Pháp hay tập kết của ông Nguyễn Lập Em dù nhỏ tuổi hơn lại lục lọi ký ức kỹ hơn. Truyện Sông Hậu xuôi về của chị xảy ra bên bến sông vùng trung lưu nơi hai chị em (“Tôi” và chị Hai Hường) vẫn mơ hồ về gốc gác của họ như tận đầu nguồn sông chưa thành dòng tít tắp. Nhưng sông cứ xuôi về và cuộc đời cứ xuôi đi. Không hiểu sao tôi vẫn cứ đinh ninh vùng đất trẻ Nam bộ nơi ký ức khẩn hoang còn chưa quá nhiều đời sớm muộn cũng có tác phẩm văn học kết cấu như Sông Hậu xuôi về. Khi tác giả nó là Lập Em - bạn học của tôi tôi hơi ngạc nhiên. Nhưng ngẫm kỹ thì có lý. Lập Em sinh trong một gia đình không giàu gia giáo không cao thâm nhưng đủ để chị tự hào về nó - điều rồi ra đã làm chị kiên trinh chịu cực. Dẫu vậy dĩ vãng mờ mịt cũng dần dà hiện ra chưa thật rành mạch nhưng đã hiện ra. “Tôi” hiểu rằng tía ‘tôi” vì trượng nghĩa đã gả chị Hai Hường (con đẻ) cho một anh đã hai con chết vợ đang làm ăn bấp bênh ở đâu đó rồi dậy “tôi” (thực ra có phải là con của tía?) miếng võ hiểm chỉ truyền cho người ruột thịt “tôi” đã bàng hoàng. Thế rồi đến khi chị Hai Hường bị giả về mới vỡ nhẽ rằng chị ngồi vào chỗ tía đặt nhưng chị đã có tình yêu khác tình yêu ấy đã có kết quả nhưng nó là con ai thì không trả lời được “tôi” là con ai thì lại càng khó bề biết được. Truyện vỡ òa ra thế nhưng sông vẫn xuôi về đời vẫn êm ả trôi đi. Chỉ biết con người đến từ tình yêu và tình yêu cũng là nơi nó sẽ đến; câu hỏi nghìn xưa treo lơ lửng trên đầu nhân loại: “Con người đến từ đâu nó sẽ đi về đâu” phút chốc chỉ còn là một bến tàu đò vô danh và dòng sông sẽ còn thao thiết chảy.

Viết về các tài năng trẻ như Phan Thị Vàng Anh là một điều cực khó. Hơn nữa Huỳnh Như Phương Vương Trí Nhàn đã đọc hầu nát hai tập truyện không dầy của chị. Chị không xuất hiện trên văn đàn “như một niềm kinh dị” mà cứ bình thản móc túi trái túi phải ném ra những mảnh đời sống quen thuộc với thế hệ mình. Với tôi đúng là quen thuộc thậm chí thân thiết nữa nhưng vẫn thấy quái lạ. Do đó tôi buộc phải đọc kỹ và càng thấy các tâm trạng truyện của Phan Thị Vàng Anh tuy không phong phú (chị khó thành công ở tiểu thuyết tôi đoán thế) nhưng rất nhiều cung bậc và do đó tinh tế và đa thanh. Ở giữa hai cung bậc là một khoảng trống cả tâm trạng lẫn ngôn ngữ; mỗi từ của chị như là “ốc đảo” mà người ta biết chắc dưới chân chúng là đáy biển. Ở ta mà chủ yếu lại ở các nhà văn Nam Bộ Phan Thị Vàng Anh không bắt đầu nhưng chị đẩy lối văn xuôi hiện đại ra chỗ nhiều ánh sáng dễ thấy nhất. Nó khiến người ta có cảm giác chị đã tiên khởi lối văn xuôi phi cảm tính không thiên vị ai không vu vạ ai mà cái đuôi của tập quán cũ còn ít nhiều trong văn phẩm bè bạn tôi ngoài này. Chính hiệu quả “đáy biển” giúp tôi may mắn có được điều nói khác người nói trước.

Do lối văn không nịnh người đọc những mô-đun ốc đảo của chữ nghĩa khiến người đọc có cảm giác hoặc vấp hoặc khó chịu (các nhà xã hội học đã chỉ ra rằng làm người ta khó chịu cũng là một kiểu hấp dẫn bạn đọc). Đấy có lẽ là nguyên nhân để nhiều người bảo chị quá sắc sảo không quên mình khi chơi vốn là điều lệ của mọi cuộc chơi? Những điều ấy đều đúng cả. Nhưng nếu bỏ sách đấy quên nó đi thì âm hưởng của truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh lại dịu dàng buồn. Nó Thạch Lam một chút Sagan một chút chỉ một chút thôi nhưng cả hai chưa có cái ở Vàng Anh rất đậm đó là cảm giác về sự mong manh bất trắc. Tôi cho rằng đọc các truyện có tâm trạng mong manh bất trắc giúp con người hướng thiện hơn yên ổn hơn là uống thuốc an thần trong một giọng ca sến.

Vương Trí Nhàn viết rất hay rất xác đáng về Phan Thị Vàng Anh nhưng tôi có cảm giác cuộc đối thoại giữa con em do Phan Thị Vàng Anh làm đại biểu với phụ huynh do Vương Trí Nhàn đại biểu vẫn chưa hiểu hết nhau. Chúng ta trên có cụ Chế dưới Vương Trí Nhàn dưới nữa đến tôi đã sinh con đã cực nhọc thậm chí viết tô hồng để nuôi dạy các con trung thực hiền thảo tin yêu nhưng chưa tạo ra được cho chúng một môi trường sống đúng như ta muốn lại còn khó bề bao dung cái môi trường như nó muốn và đã thất vọng. Mà ai có lỗi trong một độ chênh nào đó giữa mơ ước và hiện thực? Chưa kể đến màn Kịch câm nghiệt ngã hãy đọc một tâm trạng trong Một ngày : “Tôi nghĩ thật tội cho các bậc cha mẹ chợt một ngày nào đó thấy đứa con vuột khỏi tay mình bơ phờ như một kẻ mất hồn (...) À đó là quy luật vậy mà khi tưởng tượng ra con gái của tôi sẽ lang thang ở một thị xã xa xôi chẳng để làm cái gì cụ thể tôi lại cảm thấy khó chịu”.

Cũng với các tâm trạng bất yên như thế nhưng các nhân vật của Phan Triều Hải luôn luôn có xu thế bỏ nhà đi tìm cái yên ổn theo đuổi khát vọng. Dù có lúc ở nhà thì cũng phải trèo lên mái nhà (tên tập truyện Có một người nằm trên mái nhà) để chờ ngôi sao chổi Hale-Bopp sẽ đi qua. Dù có ngồi nói chuyện với người tình thì cũng không thỏa mãn cứ đòi hỏi phải hiểu rõ đằng sau mỗi lời nói ra là cái gì nó có thật không có đẹp không? (Những mưa về sáng). Nhiều khi đi khỏi nhà chỉ bởi “Đến một lúc nào đó nhà chợt hóa chật hẹp như một cái khuôn bước vào đó là bị ép vào những hình thù định sẵn”. Phải đi dù đó là chuyến đi không thành (Đường về miền Tây). “Tôi” và Thi về miền quê Thi chơi không nói rõ để làm gì. Nói chung các nhân vật bỏ nhà ra đi của Phan Triều Hải không có nguyên cớ trực tiếp mà người ta chỉ có thể phỏng đoán chúng đã được tích tụ quá lâu đã trở thành sức ép. Đây là chỗ Hải khác hơn và tôi muốn nói rằng Hải cao “chưởng” hơn Vàng Anh. Chuyến đi miền Tây chưa thành vì xe cộ hỏng hóc trong đêm dùng xe ngựa tấp đại vào một ngôi làng không có tên để kiếm cái ăn tạm. Bấy giờ cái quê hương của Thi mới hiện ra qua đôi chân trần của cô bé tiếp viên mà rồi sau Thi sẽ ăn nằm với cô ta với giá là cái đồng hồ lính thủy phá vỡ làm nhòe nhoẹt nốt cái hình ảnh làng quê trong ký ức đẹp. Sự ra đi đôi khi chỉ là đợi một cái gì đó vui vẻ tốt đẹp trong lành hơn như Dao và Cường (Đợi chuyến tàu đêm) về quê của Bình ngoài miền Trung picnic. Thế rồi Cường bị đám trai làng đánh hội chợ đến mềm lả rồi dầm trong đống bùn cạnh giếng cạnh cái giếng khơi vốn được tả như một trong lành còn sót lại của môi trường mù mịt bụi ô tô. Chỉ vì như bác Hép nói: “Dân quê trở chứng mình nói còn biết nghe chứ mấy đứa có học chút ít mà hỏng thì lúc nào cũng xưng xưng ngu muội lắm không nói phải trái được”

Không hiểu sao đặt Phan Thị Vàng Anh bên cạnh Phan Triều Hải tôi thấy yên tâm hơn về những tình huống ngổn ngang đến nỗi nhiều khi cảm thấy vô phương cứu chữa của chị. Và thấy ra cả một chân trời khát vọng còn gần như nguyên vẹn trước mặt họ hiện vẫn còn ẩn dụ trong ngôi sao chổi Hale-Bopp lộng  lẫy hay kỳ vĩ đêm nguyệt thực (Một tối ngồi ở quán bar). Xin coi đây là lời chúc chân cứng đá mềm của bạn đọc đứng tuổi cho các tài năng trẻ nói chung trong đó có cả Nguyễn Trọng Nghĩa mà tôi xin nói kỹ dưới đây.

Nghĩa học cùng tôi ở trường Nguyễn Du. Anh ít nói không in gì khóa luận viết trang hơn trang ngót khổ giấy vở tập học trò. Rồi anh đi học Học viện Gorky có bạn cùng học về bảo Nghĩa chỉ uống rượu không học gì. Kịp khi thấy truyện Tư Luận của anh in trên Văn nghệ gọi điện vào Sài Gòn biết đúng là anh tôi mừng quá. Hóa ra là ngược lại. Anh mê Kafka và học theo lối nhà văn rất khó học này điều này “được nói” ở truyện Cuốn sách thiếu với cái tên nhân vật “tôi” được nhân vật khác kêu là Nghĩa. Truyện viết như không có gì khi “Tôi” học xong thì Liên Xô vỡ tuyển tập bộ bốn Franz Kafka mới ra được ba “Tôi” đã phải về nước và thất nghiệp. Trong khi hành nghề xích lô tại Sài Gòn “tôi” gặp lại I-van bạn học ở Gorky . Truyện chỉ ngồ ngộ ở chỗ hai ông sinh viên văn khoa đã từng mơ làm Bộ trưởng Bộ văn hóa làm Đại sứ tại Việt Nam này giờ đang đạp xích lô và đi buôn. “Tôi” nhờ I-van mua cho tập cuối Kafka nhưng rồi bên ấy có chiến tranh bặt tin những thay đổi đột biến mang tính Kafka vẫn chưa diễn ra. Hóa ra anh bạn ít nói không in khóa luận trang hơn trang ngót này kỹ lưỡng và nung nấu.
 

Tư Luận vốn tên là Tình già do bởi sợ thói suy diễn vô lối sinh ra từ nhóm văn học ám chỉ thiển cận đã bị đổi theo tên nhân vật chính. Con trai Tư Luận theo lời trăn trối của cha đánh điện cho một bà già ở đâu đó xa lắm. Sáu tháng sau ngẫu nhiên họ cùng đi trên chuyến đò dọc về quê anh. Lối viết lạnh mở một khép hai khiến người đọc không hiểu vì sao điện về chịu tang mà bây gi�

CHÂN DUNG MỘT TÁC GIẢ NAM BỘ CÓ CÁI TÊN RẤT NAM BỘ: ÚT THÊM.

 

nguyenquocdong

gui HTT
bài viềt có tầm nhìn bao quát khá sâu sắc.Nam bộ có một văn phong riêng biệt mà tôi rất thích như Phi Vân Sơn Nam Hồ B Chánh Bình ng Lộc...

anh tho

Gửi chú HTT

Cháu chào chú HTT. Chú ơi bài này đọc hay quá sao cháu lại dốt văn quá trời chẳng nhẽ cháu lại bảo chú dậy cho cháu đi đặc biệt là viết truyện ngắn đó hihi thích nghê lắm chú a. nhưng đốt lên cứ thích thích đọc của người khác viết vậy.
Chú à! cảm ơn chú cái bài về loviba đó cháu thích vô cùng và đã đọc ngấu nghiến nó luôn hihi Chú thật là giỏi làm sao mà có thời gian tìm hiểu được hết mọi thứ vậy chứ
chú ơi con này sao nó đẹp vậy ! chú ơi giờ này cháu già rồi vậy mà o xã của cháu vẫn gọi là "cô bé" "cô nương" có bao giờ gọi tên cháu đâu. giờ lại đến chú cứ nghĩ cháu mới 18 tuổi thế này chú mà gặp cháu ngoài đời chú"ngất sỉu" ngay mất thôi hihi lúc đó là nguy to biết tìm chị HT ở đâu mà cứu .
chúc chú ngày cuối tuần vui nha.
undefined

MINH ĐAN

thăm anh

Vào thăm đọc thêm tư liệu rồi ngẫm nhưng chưa dám hó hé gì (vì lý do tế nhị)
Chúc anh trai cuối tuần vui khỏe nhé!
Lọ Lem

maithao

Đồng chí này viết khảo luận sắc như dao ấy anh Tâm ạ. Đọc rất thích.
Anh vui nhiều nhé

Vanchinh

tiếp theo "Văn chương Nam Bộ nhìn từ xa"

Một cô gái điên chưa triệt để cứ mỗi gần tết lại tìm đến các căn hộ có chủ mới họ chưa ở đây thời ùng oàng bom đạn nên cô mới có thể nói rằng ngày trước nhà cô ở đây. Mánh khóe này cô dùng chỉ để có cơ hội sống lại cái mối tình nữ sinh ngày xưa (Cô gái đi vào cửa sau). Bom đạn đã ném xuống ngôi nhà giết chết bố mẹ người yêu và trí khôn của cô. Nhưng dường như ở phía bên kia nhưng cô là đồng bào của người chiến thắng. Cộng vào tổn thất chiến tranh ở đây không phải là số 1.
Hai Lành (Về Cần Thơ gặp cháu gái) lại là mảnh văng khác của chiến tranh. Một thanh niên thành phố đi lưu lạc làm ăn rồi tiện thể đi bộ đội yêu một cô gái ở ruộng có con rồi anh hy sinh. Mãi bốn mươi năm sau khi Hai Lành ra đời mảnh họ nội (“Tôi”) mới tìm gặp và cũng chỉ khi mẹ “tôi” la rầy miết mới bẩy được “tôi” khỏi đống bùng nhùng công việc không tên và vô vị ngoài thành phố mà lặn lội về ruộng. Không mặc cảm không oán giận Hai Lành từ đất lớn lên lấy chồng đẻ con. Chồng chết lam lũ nuôi con đào ao lập vườn dựng vợ gả chồng cho chúng. Không tươm tất nhưng bình yên và lành lặn. Tôi bỗng nhớ đến một truyện của G.D. Maupassant: Cặp tình nhân quý tộc hồi trẻ có thai đẻ rồi cho con ở một làng nọ. Bây giờ đã già nua mới sực nhớ tìm về làng ấy thì đứa con đã là một lão nông thô kệch nghèo khó. Họ không dám nhận con bỏ đi nhưng không trốn được day dứt. Rõ ràng truyện của Lê Văn Thảo hay hơn đa nghĩa hơn qua hình ảnh lam lũ nhưng lành lặn của Hai Lành cùng một chùm con cháu của bà; chính nó lại giúp cứu rỗi cái oi ngột của chú Ba thành phố.
Sự văng ra đôi khi lại do chính nhân vật tự nguyện được đạo lý dẫn dắt thì đúng hơn như ở Ông cháu và con người chủ cũ. Một lão nông được chủ cũ giao lại mảnh ruộng “chó vả đi mèo vả lại” do chẳng ma nào mua để chủ lên thành phố. Thế rồi biến thiên người chủ cũ vọt đi nước ngoài lão vất vả cực nhục với mảnh ruộng nhưng nhờ nó gia đình lão sống suốt 50 năm qua. Lão vẫn nhớ rằng ông chủ chỉ giao ruộng cho hoa lợi chứ không cho hẳn ruộng nên nghe tin con ông chủ từ Canada trở về lập tức bán ruộng ôm tiền lên thành phố nộp. Hiếm thấy một chuẩn mực nô bộc nào tốt hơn trên thế gian này.Cũng hiếm thấy có ai như lão lại cam chịu vai trò nô bộc một cách nhẹ nhõm đến thế và chấp nhận một chỗ trên bãi rác dễ dàng đến thế. Vậy còn ông chủ? Ông chủ cha đã chết hoặc đã khánh kiệt ở xứ người còn ông chủ con giờ lại đang làm thuê cho kẻ khác một ông Canada nào đó.
Nói điều lớn lao bằng giọng nhẹ nhõm như không là một cấp độ của bút lực. Lên đến bậc ấy rồi thì hơn kém nhau chỉ bằng vào độ dư ba./.
Hà Nội 9/2000
Văn Chinh

Vanchinh

tiếp theo "Văn chương Nam Bộ nhìn từ xa"

Khi tôi bắt đầu có ý thức đọc văn học Lê Văn Thảo đã in truyện dưới cái phụ đề “tác phẩm từ miền Nam gửi ra”. Suốt hơn 30 năm háo hức học nghề Lê Văn Thảo có đấy nhưng nằm đâu đó ở biên viễn trong đầu óc tôi. Thế nên vài năm qua tôi được đọc chùm truyện ngắn của ông để hôm nay nói Lê Văn Thảo là một nhà văn lớn đang viết hẳn nhiều bạn sẽ cảm thấy đột ngột. Biết làm sao khi nghệ thuật biểu hiện của ông lại già dặn đến thế những điều lớn lao của dân tộc của kiếp người lại được nói một cách tinh giản nhẹ nhõm đến thế và lại gây hiệu ứng nghệ thuật sửng sốt đến thế.
Lâu nay văn học của chúng ta thường vất vả xung quanh việc khắc họa những nhân vật trong cuộc: anh bộ đội anh cán bộ các nghệ sĩ lão nông hay chị công nhân kể cả phía địch nếu đó là tác phẩm viết về chiến tranh. Chỉ một Lê Văn Thảo dường như đã chỉ chú tâm đến loại nhân vật mà vì nhiều lý do khác nhau họ đã bị bong ra khỏi khu vực người trong cuộc. ở tiểu thuyết được giải thưởng Hội Nhà văn Một ngày và một đời những chương hay nhất là đoạn văn viết về xóm bụi đời đã “ngẫu nhiên” tham dự vào một trận đánh lớn của biệt động thành. Các truyện ngắn Anh chàng xích lô lãng tử Cô gái đi vào cửa sau Ông cháu và con người chủ cũ Người Sài Gòn Về Cần Thơ gặp cháu gái... đều có những nhân vật rất hay đều là dân bụi hoặc mấp mé bụi đời. Đọc Lê Văn Thảo tôi nhớ đến câu nói của một họa sĩ đã quên tên: “Hãy đưa tôi một nắm bùn nếu anh muốn có một nàng công chúa”. Trên kia tôi nói dường như bởi Lê Văn Thảo đã có bậc tiền bối Nguyên Hồng - tác giả Bỉ vỏ và Thời thơ ấu. Mặt khác cũng như Nguyên Hồng biên độ quán chú của Lê Văn Thảo rộng ôm từ các người trong cuộc cho đến các nhân vật bị bật ra vỉa hè đôi khi là những mảnh bị văng ra từ chính cuộc chiến tranh cao cả; dưới ngòi bút ông họ hiện ra bình đẳng với tư cách là đối tượng của sáng tạo. Vâng độ lớn của nhà văn trước hết là năng lực ôm trùm cuộc đời ở mọi ngả tôi nghĩ thế; ông ta không lấy của người này cho kẻ khác không che giấu hộ ai không vu vạ ai tự giác hay bất tự giác. Nếu giả định trên đây là đúng thì nhà văn lớn hiển nhiên là một người dân chủ. ở các nhà văn Nam Bộ kể trên tôi thấy tuy mức độ có khác nhau nhưng đều có thái độ dân chủ như vậy.

Vanchinh

tiếp theo entry "Văn chương Nam Bộ nhìn từ xa"

Tư Luận vốn tên là Tình già do bởi sợ thói suy diễn vô lối sinh ra từ nhóm văn học ám chỉ thiển cận đã bị đổi theo tên nhân vật chính. Con trai Tư Luận theo lời trăn trối của cha đánh điện cho một bà già ở đâu đó xa lắm. Sáu tháng sau ngẫu nhiên họ cùng đi trên chuyến đò dọc về quê anh. Lối viết lạnh mở một khép hai khiến người đọc không hiểu vì sao điện về chịu tang mà bây giờ mới đi? Tại bà đã quá già? Tại anh con trai lùi ngày điện vì không muốn mẹ mình - người đã hận bà cả đời vì ghen gặp kẻ tình địch trong đám tang? Hay lỗi bưu điện chậm? Hoặc thậm chí đơn giản bà già đã không còn ở địa chỉ ái tình cũ? Biết bao nhiêu là biến thiên từ cái ngày họ còn trẻ cứ gặp nhau là Tư Luận không tha cho bà nay thì bà đã già lắm già đến như lạc từ một thế kỷ trước - bút pháp thần tình tạo ra cảm giác này với số chữ không thể ít hơn. Thế rồi cái chàng trai trẻ hôm nay cũng hành xử mụ mị hẳn là y đã bị ám ảnh thôi miên bởi mối tình kỳ quái với sức sống kỳ quái bất chấp thời gian của một đã chết một già nua trái tim chỉ còn thoi thóp đập vài giờ nữa thì ngừng? Họ nằm xuống cạnh nhau cùng nuôi đất đai và có vẻ mãn nguyện - vẻ đẹp còn hiện rõ ở thi hài bà mãn nguyện ngay khi không chắc rằng bọn trẻ có hiểu rằng mảnh đất trẻ mênh mông và bí ẩn này thực ra chỉ được nuôi dưỡng bằng tình yêu?
Nguyễn Trọng Nghĩa còn một truyện ngắn nữa tạo khoái cảm khủng khiếp là Tro bụi mặc dù sau nó còn vương vướng một Kafka - ông chủ ngân hàng. Với tài năng của mình Nghĩa đã tạo ra một Khuê tự nhiên có “năng khiếu” bốc cháy vay bằng đồng DMac nhưng đã hóa ra vật liệu thuần Việt nên mới tránh được phản cảm sẵn dành cho người du học. Dùng ngọn lửa phi lý (ngọn lửa nghệ thuật thực ra chỉ là một ẩn dụ) của tự nhiên để đốt những phi nghĩa lý có thật tồn tại bên trong cộng đồng người sống quanh Khuê vô hình nhưng ai cũng thấy rõ; để làm thức dậy lương tri trong đám tang Khuê phải chăng đó là tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn? Trong quan tài của người tự cháy tất nhiên không còn Khuê chỉ có tro bụi do đó không cần đến nhiệt độ 13000C của lò hỏa thiêu hẳn văn học không muốn có một Khuê nào phải chết để môi sinh trở nên lành mạnh?