một vài kỉ niệm nhỏ đêm 20 tháng 12 năm 1972 tại thủ đô Hà Nội

KỈ NIỆM 37 NĂM ĐÁNH THẮNG CHIẾN DỊCH LINEBACKER II DO RICHAD NIXON PHÁT ĐỘNG 

Hình ảnh
SAM II và pháo phòng không trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không

 

 

THÁNG 12 NĂM 1972 VÀI HỒI TƯỞNG

Hồ Tĩnh Tâm

 

Đến bây giờ thì tôi đã không thể nào nhớ lại thật rõ những ngày cuối tháng 12 năm 1972 khi tôi về Hà Nội nghỉ phép để chuẩn bị lên đường vào chiến trường B2 Nam Bộ. Tôi chỉ nhớ là tôi đã cùng với Trần Xuân Quảng lúc đi bộ lúc đi nhờ xe tải của lâm nghiệp của quân đội nhảy cóc từng chặng từ nơi đóng quân của đoàn 568 tại Mai Sưu để về Gia Lâm.

 

Chúng tôi về tới Gia Lâm lúc ba giờ chiều ngày 20 tháng 12. Vì lực lượng phòng không không quân không cho bất cứ phương tiện nào vượt sông Hồng vào ban ngày tôi phải ở lại nhà người cậu của Quảng trong khu tập thể của “Nhà máy Cơ khí Gia Lâm”. Chiến tranh ném bom Miền Bắc của Mỹ đã tái diễn từ tháng 5 năm 1972 thế nhưng ở Gia Lâm vẫn thấy bán bia hơi. Cậu của Quảng bấy giờ là kĩ sư còn độc thân bằng cách nào đó ông mua được một thùng Trúc Bạch tới 5 lít. Uống xong tôi nằm ngủ một giấc. Tới 8 giờ tối thì cậu của Quảng lấy xe đạp chở tôi ra cầu phao Chương Dương. Đến bờ đê dẫn xuống cầu chúng tôi chia tay.

 

Mãi tới hơn 9 giờ tối công binh mới phát lệnh cho xuống cầu. Không biết từ các ngóc ngách nào trong bóng đêm đen quạch từng dòng người túa ra đông kìn kịt. người đẩy xe đạp người gồng gánh còn số chỉ đeo ba lô như tôi thì rất ít. Ai nấy đều ra sức chen lấn nhau để xuống cầu. Thế nhưng cầu phao cũng chỉ ra tới gần giữa sông thì phải dùng phà tăng bo qua bên kia đầu cầu phao phía Hà Nội. Khi tôi lần ra được phía cuối của cầu phao thì chiếc phà chật ních người bắt đầu tách ra khỏi cầu. Vì chỉ có chiếc ba lô lép xẹp sau lưng tôi đã liều mạng nhảy qua được bàn phà. Khi ngoái nhìn lại tôi thấy một người đàn ông vác chiếc xe đạp sau lưng cõng một đứa bé chừng lên ba được buộc chặt vào người cũng ráng sức nảy qua bàn phà; nhưng anh ta chỉ mới đặt được bàn chân trái lên bàn phà thì chiếc phà đã dạt ra khiến cả hai cha con rơi ngay xuống dòng nước đang sôi sùng sục vì máy phà thổi nước. Suốt đời tôi sẽ không bao giờ quên được tiếng kêu thất thanh trước khi bị nhấn chìm giữa sông Hồng của người đàn ông ấy.

 

Tôi về tới nhà lúc gần nửa đêm. Ba tôi đốt ngọn đèn dầu đang ngồi lúi húi ghi chép trước một tờ giấy lớn chi chít những cột số dài dòng dọc. Ông Cụ mới từ chiến trường Tây Nguyên trở ra được vài tháng. Thấy tôi cụ đứng dậy bắt tay tôi theo kiểu hai người lính bắt tay nhau rồi cụ bảo tôi đốt bếp dầu nấu mì vắt mà ăn. Tôi ăn vừa xong thì còi báo động cấp 1 nổi lên hù hụ. Toàn bộ đèn điện của Hà Nội tắt phụt. Màn đêm bao trùm đen đặc. Liền đó là còi báo động cập 2 rồi cấp 3. Tiếng máy bay phản lực gầm rít như xé màng tai.  Đạn pháo phòng không các loại bắn túa lên trời ở khắp các tầng thấp tầng cao chớp lóe hừng hực.

 

Không hiểu sao đáng lẽ phải chạy xuống hầm trú ẩn cha con tôi lại chạy lên sân thượng. Trên đó đã có rất nhiều người cả đàn ông đàn bà cả người già người trẻ cả con nít nữa. Nghĩa là vẫn còn rất nhiều người không chịu đi sơ tán. Tôi thấy hai khẩu trọng liên 14 ly 5 do các cô gái tự vệ Hà nội sử dụng đang bắn xối lên trời. Là người lính mặc quân phục có đeo phù hiệu hạ sĩ đàng hoàng mà phải đứng nhìn các cô gái bắn trả tàu bay Mỹ tôi cứ ngứa chân ngứa tay thế nào.

 

Cả bầu trời Hà Nội lúc đó rừng rực chớp lửa. Pháo trung cao nổ đoàng đoàng hực lên đỏ rực. Pháo đại cao nổ khùng khục ửng lửa hựng hồng hồng. Đạn nhọn của tự vệ thủ đô lóe sáng chớp chớp như vãi trấu lên trời. Đạn lửa dẫn đường túa lên ngoằn ngoèo như rồng lửa. Đạn tên lửa phóng lên vùn vụt. Hàng trăm cột đèn pha quét lên trời làm lóe chói lên những chiếc mày bay phản lực bay chui chúi như hoảng sợ lưới lửa phòng không của quân dân thủ đô.

 

Ai đó hét lên: “Cháy rồi! B52 cháy rồi!”. Lập tức tất cả đều nhảy dựng lên hét vang trời. “Cháy rồi! Cháy rồi! B52 cháy rồi!. Lửa ma giê sáng chói đến mức không thể nhìn được.

 

Đang lúc chúng tôi phấn khởi reo hò có một người cầm loa điện gọi to yêu cầu những ai không có nhiệm vụ phòng không phải xuống ngay hầm trú ẩn.

 

Đó là đêm đầu tiên đêm 20 tháng 12 năm 1972 tôi tận mắt chứng kiến quân dân thủ đô chống trả pháo đài bay B52 của không quân Mỹ quật tan xác của chúng tới 6 chiếc B52 các loại.

 

HTT

 

Memory Vietnam "Nhớ Việt Nam"

hotinhtam

Tôi đã nghĩ về câu chuyện này suốt 30 năm qua. Không hiểu từ đâu một cô học trò phân tích cho tôi nghe rằng cuộc chiến chính là vấn nạn của chúng ta không phải là của họ. Nghe như chuyện không tin nổi nhưng chuyện đã từng xảy ra - và hẳn nhiên không thể là dàn dựng.

http://www.tuoitre.com.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=66579

Không ai có thể tính trước rằng chúng tôi dừng xe ở đó vì bom và không ai có thể “cấy” cô gái ấy vào ngay thời điểm ấy.

Trong những ngày cuối cùng ở Hà Nội tôi được đi xem vở kịch Tất cả đều là con tôi của Arthur Miller do Đoàn kịch nói Hà Nội biểu diễn... Ngồi cạnh tôi đạo diễn vở kịch nghiêng đầu hỏi tôi: “Có phải tư bản trông giống như thế không? Tôi thật sự không biết”. Tôi trả lời: “Vâng rất giống”.

Khi vở diễn kết thúc chúng tôi chụp ảnh cùng nhau. Rồi tôi hỏi ông đạo diễn vì sao lại chọn vở kịch này. Đây là câu trả lời của ông: “Vở kịch này cho thấy có những người Mỹ tốt và những người Mỹ xấu. Chúng tôi cần giúp dân mình phân biệt được giữa hai nhóm người này. Chúng tôi không thể để người dân ghét nhân dân Mỹ. Một ngày nào đó cuộc chiến sẽ trôi qua và chúng ta phải trở thành bạn bè”.

Thêm một lần tôi không biết nói gì hơn. Nói gì được trước một câu trả lời tinh tế đến như thế? Tất cả những gì tôi có thể làm lúc đó là ôm chầm lấy ông... Bây giờ thì tôi đã hiểu vì sao người dân ở đây đối xử với tôi như thế và vì sao mọi người Mỹ khi trở về nước đều nhắc đến sự thân thiện của người VN...

Đối với tôi cuộc chiến tranh VN là một sự phản bội: Chính phủ Mỹ lúc đó đã phản bội người dân nước mình. Người VN dùng một vở kịch để giúp người dân họ tha thứ cho Chính phủ Mỹ. Vì sao với tôi tha thứ lại khó khăn hơn với họ?

... Đây là lần đầu tiên tôi ở trong một hoàn cảnh cách mạng. Lúc đó tôi chưa nhận thức được điều này: các cuộc cách mạng vào thời điểm lịch sử đều được lãng mạn hóa nhưng khi kết thúc mọi thứ có thể trở nên khắc nghiệt hơn…

Tôi không hề muốn đất nước mình “thua cuộc” trong cuộc chiến tranh VN. Tôi cũng không hề muốn người Mỹ thiệt mạng. Tôi chỉ muốn chúng ta rút ra khỏi (Việt Nam).

... Cây tre dễ khiến người ta nhầm lẫn. Nó mảnh dẻ và trông có vẻ yếu ớt khi đặt cạnh một cây sồi. Nhưng với sự dẻo dai và uyển chuyển cây tre mạnh hơn cả. Với người VN biểu tượng của sức mạnh là hình ảnh những sào tre bện lại cùng nhau. Cây tre mang trong nó một năng lượng mềm dẻo nhỏ nhẹ và vị tha giống như những đức tính hiện diện trong con người. VN chính là cây tre.

Tôi chiếu những thước phim tư liệu dài 45 phút tại một phòng chiếu phim ở Paris ngày 25-7 cho giới báo chí quốc tế... Tôi cũng chiếu lại bộ phim này lần nữa ở một cuộc họp báo ở New York và đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy bộ phim của mình.

Bộ phim đã biến mất. Tất cả những gì còn lại ngày nay là bức ảnh tôi tại buổi họp báo phía sau là nền phim chiếu một vài tù binh chiến tranh...

Tôi được hỏi mình nghĩ gì về cáo buộc phản quốc. Tôi cố gắng đưa ra một câu trả lời theo kiểu “cây tre” và hôm sau các báo đưa tin về câu nói của tôi: “Thế nào là một kẻ phản bội?... Bom đang rơi trên đất VN nhưng đó là một bi kịch cho nước Mỹ...

Những ai đang làm mọi điều để chấm dứt chiến tranh là những người yêu nước”...

Những đợt ném bom xuống hệ thống đê ngừng vào tháng tám năm ấy.

CAM LY lược dịch

hotinhtam

Hồi ký Jane Fonda "Đời tôi cho đến ngày nay": Cây tre

Tôi muốn bạn đọc biết thêm về một người bạn Mỹ của Việt Nam.

http://www.tuoitre.com.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=66579

Jane Fonda ở Hà Nội năm 1972
TT - Từ lúc bước ra khỏi Bệnh viện Việt - Đức tôi đã biết mình sẽ làm gì. Tôi nói với những người đón tiếp mình: “Tôi muốn lên tiếng trên làn sóng phát thanh của các bạn.

Tôi muốn thử nói cho những phi công Mỹ điều mà tôi nhìn thấy trên mặt đất tại nơi đây”.

Hãy phẫn uất đi!

Tôi đã quen nói chuyện với binh lính Mỹ... Tôi biết ngày càng nhiều phi công Mỹ bắt đầu quay lại chống chiến tranh và tôi nhớ nghe ai đó nói rằng bản đồ cung cấp mục tiêu cho phi công không ghi rõ tên những địa điểm bằng tiếng Việt mà chỉ là những con số xa lạ và lạnh lùng.

Những phi công này chưa từng đến VN chưa từng nhìn thấy gương mặt của những nạn nhân của họ. Tôi cảm thấy mình cần phải thử truyền đạt những gì mình nhìn thấy với tư cách cá nhân cho họ và cho cả những lính Mỹ ở miền Nam VN.

Tôi đã trở thành một nhân chứng và mặc dù không định trước tôi cảm thấy mình đang giữ một vai trò đạo đức trong việc này...

Buổi phát thanh đầu tiên được thực hiện trực tiếp. Những buổi phát thanh kế tiếp được ghi âm vào dịp cuối tuần. Ngoài một vài ý tôi ghi tắt cho chính mình tôi phát biểu không chuẩn bị trước.

Tôi nói từ trái tim mình về những gì tôi từng chứng kiến và những gì tôi cảm thấy từ những hình ảnh ấy... Với tinh thần lạc quan vốn có tôi hi vọng rằng nếu họ có thể thấy được những điều tôi đã thấy họ cũng sẽ cảm nhận giống tôi.

... Ba giờ sáng chúng tôi rời khách sạn đi về phía Nam Sách 40 dặm phía đông Hà Nội. Hôm qua 20 phóng viên nước ngoài đi khảo sát tình hình thiệt hại của những con đê bị đánh bom ba ngày trước đó. 12 Con Ma và những chiếc A-7 quần đảo quanh khu vực đê và thả hàng loạt bom và trái pháo.

Phóng viên Hãng AFP ngày 11-7 viết rằng tất cả những phóng viên tại đó đều “cảm thấy rõ ràng các cuộc tấn công này nhắm vào hệ thống đê”. Đây là điều mà nước Mỹ đang phủ nhận. Đây là điều mà tôi đến để ghi nhận thực tế...

Tôi được thông báo rằng Nam Sách đã bị máy bay Mỹ tấn công tám lần kể từ ngày 10-5 và đê ở đây đã bị trúng bom bốn lần. Dù có thể máy bay sẽ quay lại mọi người vẫn đông đúc ở khu vực này tay chân ngập trong bùn trồng lúa và vác đất đắp lại bờ đê… Vì sao họ không thét vào mặt tôi?... Thái độ phi thù địch của họ khiến tôi chỉ muốn nắm lấy cổ họ mà thúc giục họ.

Trời đất ạ hãy phẫn uất đi nào! Đứng trên bờ đê tôi nhìn ra mọi hướng. Tôi không thấy một mục tiêu quân sự nào hiển hiện - chỉ thấy toàn là đồng lúa. Rồi tôi bỗng thấy những hố bom hai bên bờ đê - những hố to rộng 10m và sâu 8m...

Tôi được biết là nếu những đoạn đê nứt không được vá chữa kịp thời áp lực nước sẽ làm vỡ đê và gây hại toàn bộ phía đông vùng châu thổ sông Hồng...

Bi kịch cho nước Mỹ

Chúng tôi quay về Hà Nội ngang qua những ruộng lúa và những thôn xóm nhỏ. Bỗng nhiên người lái xe dừng lại nói với Quốc rất nhanh bằng tiếng Việt. Quốc quay sang tôi: “Nhanh lên thêm một đợt máy bay nữa đang đến”.

Quốc bảo tôi chạy xuống một hầm chống bom nhỏ loại hố nằm la liệt ở miền Bắc VN dọc các con đường ngoại vi thành phố... Bỗng nhiên từ phía sau một cô gái VN nắm lấy tay tôi kéo tôi vào căn hầm che cho chúng tôi bằng một chiếc nón rơm... Chỉ trong vài giây mặt đất rung chuyển tiếng bom thả nghe thùm thụp.

... Đêm nay khi các bạn đang đơn độc xin hãy tự hỏi mình: các bạn đang làm gì?

Xin đừng chấp nhận những câu trả lời đã được định sẵn cho các bạn từ khi còn trong giai đoạn huấn luyện mà hãy tự hỏi với tư cách là những con người các bạn có thể biện minh cho điều mình đang làm hay không?...

Trích một bài nói chuyện trên sóng phát thanh
của Jane Fonda
Gương mặt cô gái áp sát mặt tôi. Tôi cảm thấy làn mi và hơi thở ấm áp của cô. Điều này không thể là sự thật được. Tôi không thể đang ở trong một cái hố với một cô gái VN vừa giúp tôi thoát khỏi bom Mỹ. Tôi sẽ tỉnh dậy và nhận ra tất cả chỉ là một giấc mơ - tôi thầm nghĩ.

Nhưng rồi tôi nghe tiếng Quốc gọi tôi rằng an toàn rồi có thể ra được rồi (ở vùng ngoại ô này không có phương tiện báo động). Rồi tôi cảm thấy nắng mặt trời ấm áp trên đầu mình khi cô gái nhấc chiếc nón rơm và chui ra khỏi hầm.

Tôi nhìn thấy chồng sách giáo khoa cô mang theo rơi trong hầm... Tôi bắt đầu khóc nói đi nói lại với cô gái: “Tôi xin lỗi tôi xin lỗi tôi thật sự rất xin lỗi”. Cô gái chặn tôi lại và hỏi tôi bằng tiếng Việt giọng bình thản.

Quốc dịch cho tôi: “Cô đừng khóc cho chúng tôi. Chúng tôi biết vì sao chúng tôi đang chiến đấu. Cô nên khóc vì những người lính của nước cô. Họ không biết họ đang chiến đấu vì điều gì”. Tôi nhìn cô. Cô nhìn thẳng vào mắt tôi. Cứng rắn. Quả quyết.

hotinhtam

cầu Long Biên.

Trong cuộc chiến tranh phá hoại Miền Bắc lần thứ nhất của Mỹ cầu Long Biên không hề suy suyển thế nhưng trong chiến dịch Linebacker II người Mỹ sử dụng bom lazer và bom điều khiển bằng truyền hình đã đánh sập được hai nhịp; nhưng ngay lập tức công binh đã nối lại cầu. Điều khiên người nước ngoài khâm phục là các cô gái tự vệ thủ đô với ngôi sao vuông trên mũ đã đặt phảo 37 ly và trong liên 14 ly 5 ngay trên cầu đánh trả lại máy bay Mỹ rất quyết liệt.
Kỷ niệm ngàn năm Thăng Long tôi nghĩ lầ phải ghi lại và tái hiện những kì tích anh hùng diễn ra ở cây cầu lịch sử này. Nó còn sừng sững hơn cả tháp efell ấy chứ.

http://www.laodong.com.vn/Uploaded_LAODONG/thanhbinh/20080929/clb1.jpg

http://www.laodong.com.vn/Uploaded_LAODONG/thanhbinh/20080929/clb2.jpg

http://www.laodong.com.vn/Uploaded_LAODONG/thanhbinh/20080929/clb3.jpg

http://www.laodong.com.vn/Uploaded_LAODONG/thanhbinh/20080929/clb4.jpg

hotinhtam

Gởi anh Đức Tiên.

Chào anh Đức Tiên!

Cuối năm 1972 tôi được nghỉ phép 7 ngày để chuẩn bị lên đường vào chiến trường B2. Bấy giờ ở Hà Nội chỉ có một mình cụ thân của tôi. Mẹ và các em còn ở nơi sơ tán. Ba tôi từ chiến trường trở ra lập tức bù đầu với công việc thành ra ban ngày tôi xách xe đạp chạy lung tung trong thành phố luôn bị đe dọa ném bom. Có điều tôi biết chắc B52 chỉ đánh về đêm còn ban ngày là tụi máy bay con ma thần sấm sét và cao lắm là cánh cụp cánh xòe nên tôi đâu có sợ. Tụi nó ném bom thì mình nhìn thấy có thể đạp xe phóng nhanh ra khỏi vùng nguy hiểm chỉ sợ nó bắn rocket mình chạy không kịp. Còn vì sao người dân chết nhiều là do B52 rải thảm vào ban đêm. Mỗi chiếc nó cõng cả trăm quả bom. Mỗi lần xuất kích tuịn nó chia làm ba tốp mỗi tốp ba chiếc thi nhau rắc bom như vãi trấu thì mình biết chạy đi đâu. Đã vậy tụi máy bay cường kích tiêm kích còn vừa hộ tống vừa đánh phụ người dân Hà Nội chết nhiều lắm. Như cái đêm 26.12 tụi nó đánh Khâm Thiên lúc nửa đêm 9 giờ sáng hôm sau tôi đạp xe tới quan sát đã thấy người ta dựng xong cái tượng đài căm thù bằng cót và gỗ ghi rõ hơn hai trăm người chết hơn một trăm bảy mươi đứa trẻ trở thành trẻ mồ côi. Ở trên đống đổ nát này khói vẫn còn bốc lên nghi ngút người cứu hộ và công binh vẫn đang làm việc nhiều người dân vẫn đang gào khóc. Xe cứu thương vẫn chạy tới chạy lui các cô ý tá mặc blu trắng vẫn đang băng bó cho những người vừa mới được moi lên từ bê tông sắt thép. Đau thương là thế nhưng khi tôi đạp xe về bờ hồ ở góc đối diện với ngã ba Tràng Tiền và phố Huế tôi vẫn nhìn thấy mấy người ngồi bán hoa. Không hiểu lúc đó tôi nghĩ sao mà lại mua một bó hoa sen. Tiếc là mấy cuốn nhật kí của tôi năm 2000 bị nước ngập kho sách trong trường- lúc đó tôi đang ở Hà Nội cả tháng vợ tôi ở nhà sơ suất không để ý- nên không còn nữa; chứ hồi đó tôi có thói quen ghi chép rất tỉ mỉ. Về những ngày cuối năm 1972 này có lẽ người Hà Nội thuộc thế hệ chúng tôi về trước không ai quên được đâu anh ạ.

Đức Tiên

cảm nhận

Những tư liệu hay những kỷ niệm không bao giờ quên ! Chúc anh vui

hotinhtam

MiC - 21 bắn hạ pháo đài bay

Đã hơn 30 năm trôi qua nhưng Phạm Tuân vẫn nhớ cái ngày 27/12/1972 ấy như vừa mới xảy ra hôm qua: “Sau khi cất cánh trong đêm tối tôi bay giữa các lớp mây ở độ cao 500m. Những sĩ quan hướng dẫn đường bay có kinh nghiệm nhất như: đồng chí Tú Chuyên Hùng các nhân viên theo dõi bản đồ đường bay điều phối không lưu đã hướng dẫn đường bay cho tôi như thể cầm tay dẫn đường để tôi bay vào nơi cần thiết thuận lợi nhất cho tấn công.

Họ biết cách dẫn đường cho tôi bay xuyên qua đội hình những “con ma” bay của Mỹ trong các tốp khác nhau để bảo vệ pháo đài bay ném bom. Tôi đã bình tĩnh và thực hiện chính xác mệnh lệnh nhanh chóng lấy độ cao quan sát nhanh màn hình của máy ngắm trên máy bay.

Khoảng cách đến mục tiêu là 10km. Đúng lúc đó tôi nhận được lệnh tấn công. Song tôi đã thực hiện mệnh lệnh đó chậm hơn nhiều vì tôi muốn tiếp cận mục tiêu gần hơn nữa để ăn chắc.

Sau khi phóng 2 quả tên lửa tôi cho máy bay bổ nhào xuống. Tôi đưa máy bay xuống độ cao an toàn và hạ cánh. Mấy giờ sau có tin thông báo chính thức không quân Việt Nam đã bắn rơi B52 của Mỹ và tôi nhận được bức điện đặc biệt của Bộ trưởng Quốc phòng trực tiếp chúc mừng về chiến thắng đó. Hồi ấy tôi đã nói và cả giờ đây tôi vẫn cho rằng “đó là chiến công chung của cả một tập thể anh hùng”.

Chiến thắng của Phạm Tuân đã là một “cú hích” góp phần làm nên “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”. Ngày 27/12/1972 trở thành ngày “Điện Biên Phủ trên không” của bộ đội không quân. Ngay đêm hôm sau phi công Vũ Xuân Thiều đã hạ thêm một pháo đài bay B52 nữa.

Chiếc máy bay MIG - 21 do phi công Phạm Tuân điều khiển giờ đây không còn nằm trong Bảo tàng Phòng không không quân nữa mà đã được đưa sang Bảo tàng Lịch sử quân sự. Đó là một ngoại lệ dành cho chiếc máy bay đã làm nên một điều tưởng như không thể vào thời điểm đó.

Tôi đã nhìn rất lâu vào chiếc MIG -21 ở bảo tàng nó nhỏ bé ngay cả khi ở giữa khoảng sân hẹp và sẽ càng nhỏ bé hơn khi bay trên trời khi so sánh với pháo đài bay B52. MIG -21 không chiến với B52 có phải như “châu chấu đá xe”? Vậy mà MIG -21 nhỏ bé cùng với Phạm Tuân đã khiến cho niềm tự hào của không quân Mỹ cháy ra tro.
http://www2.vietbao.vn/images/vi65/xa-hoi/65110323-small_120664.jpg
Khi Phạm Tuân đến nhà tù Hỏa Lò thăm các phi công Mỹ đang bị giam giữ ở đây những phi công ấy đã nói thật rằng cho đến giờ khi đã nằm trong tù họ vẫn chưa hiểu vì sao B52 lại bị bắn rơi?

Đầu năm 1973 Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đã ký Sắc lệnh phong tặng Phạm Tuân danh hiệu Anh hùng LLVT. Phạm Tuân tiếp tục phục vụ tại Trung đoàn “Sao đỏ”. Anh đã thực hiện hơn 200 lần xuất kích trong 5 năm tham gia chiến đấu.

hotinhtam

Qua hai đêm chiến đấu bộ đội xuất hiện tư tưởng thiếu tin tưởng vào độ chính xác tính ổn định của bộ khí tài vì nó đã được sử dụng hơn 14.000 giờ lại bị ảnh hưởng do ngập lụt năm 1971. Ban chỉ huy tiểu đoàn tổ chức cho các phân đội rút kinh nghiệm chỉ ra nguyên nhân chính của sự không thành công là do chưa chọn đúng dải nhiễu của B52. Từ đó kịp thời bổ sung phương án chiến đấu cách đánh củng cố lòng tin vào bộ khí tài có trong tay huy động mọi người vào làm công việc bảo đảm chiến đấu điều chỉnh khí tài có các tham số kỹ thuật tốt nhất. Đêm 20 rạng sáng 21/12 theo dõi trên bản đồ tôi thấy B52 lại vào. Đài quan sát cũng báo thấy có đèn máy bay. Nhưng rất lạ là không thấy đơn vị nào bắn lên cả. Tôi điện hỏi được cấp trên thông báo: Hiện nay “bút chì” chưa về kịp (tiếng lóng chỉ hết đạn). Lúc này đơn vị tôi cũng chỉ còn 3 quả đạn vừa đủ đánh một trận. Tôi bàn với chính trị viên hạ quyết tâm xin cấp trên cho đánh từng quả một để có thể đánh được 3 trận và hứa sẽ đánh thắng. Thực lòng theo điều lệnh chiến đấu của quân đội Liên Xô trước đây để tiêu diệt mục tiêu diện rộng ổn định lớn nhiễu nặng SAM-2 phải bắn loạt 3 quả nên khi hứa với cấp trên như vậy tôi cũng run nhưng tôi rất tin tưởng vào việc bám sát mục tiêu của kíp trắc thủ vào bộ khí tài đã được điều chỉnh tốt lại có thêm rađa K8-60 ít bị nhiễu phát hiện B52 khá chính xác vào việc xử trí các tình huống chiến đấu đã được bàn bạc kỹ giữa chỉ huy và sĩ quan điều khiển Nguyễn Mạnh Kiên một sĩ quan dũng cảm tài hoa hết sức nhanh nhẹn nhạy cảm sắc sảo và tinh thông chiến thuật kỹ thuật. Ngoài ra lúc đó máy bay Mỹ vào ít không có máy bay hộ tống nhiễu không nặng như các đêm trước. Lúc 5 giờ 9 phút tôi lệnh cho sĩ quan điều khiển sục sạo phát hiện bằng được mục tiêu để đánh. Nhưng nhiễu tạp nặng không phát hiện được. Kíp trắc thủ đã bám sát vào một dải nhiễu của một B52. Khi mục tiêu ở cự ly khoảng 38km độ cao 12km tôi ra lệnh phóng quả đạn thất bất ngờ quả đạn không đi. Tôi lập tức ra lệnh phóng tiếp quả đạn thứ hai vì nếu không phóng tiếp hoặc chần chừ đắn đo vài giây thì dù có phóng tiếp cũng không bảo đảm cho đạn gặp mục tiêu ở vùng sát thương có lợi nhất. Quả thứ hai vừa phóng lên ở cự li 26km thì thấy máy bay thò trên dải nhiễu. Thường khi đó phải thay đổi phương pháp bắn. Nhưng vì cùng một lúc vừa bám được dải nhiễu vừa phát hiện được mục tiêu nên tôi ra lệnh bám ngay dải nhiễu đó giữ nguyên phương pháp bắn X. Sĩ quan điều khiển tập trung quan sát tín hiệu đạn thông báo đạn bay 10km...15km...20km. Tôi tập trung trí lực căng mắt theo dõi. Đến cự ly 25km đạn nổ. Trên màn hiện sóng cường độ nhiễu giảm nhanh mờ dần. - Mục tiêu bị tiêu diệt. Ba trắc thủ đồng thanh báo cáo. Chúng tôi chưa kịp chia sẻ niềm vui chiến thắng thì 5 phút sau vào lúc 5giờ 14 phút tốp B52 sau bay vào trận thứ hai bắt đầu. Đúng như dự kiến của trận đầu khi phát sóng không bắt được mục tiêu tôi ra lệnh cho sĩ quan điều khiển phóng đạn phát sóng thì thấy mục tiêu. Khi đạn bay được 10km trắc thủ đột nhiên báo cáo nhiễu thông tin trên cả hai màn góc tà và phương vị đều tách dải. Không một giây chần chừ đồng chí Kiên hạ lệnh: Ta bám sát dải cao phương vị bám sát dải phải thống nhất bám vào một mục tiêu”. Đó là một quyết định đúng thời cơ chính xác nếu không như thế mà mỗi trắc thủ bám vào dải nhiễu của mỗi chiếc khác nhau thì chắc chắn không diệt được mục tiêu. Quả đạn tiếp tục bay đến cự ly 24km đạn nổ. Tôi còn nhớ Từ xe ăng ten và vọng quan sát anh em hò reo rất to: - Trúng rồi rơi rồi mục tiêu bốc cháy to lắm! Một phóng viên báo “Nhân dân” có mặt ở trận địa lúc đó ôm chầm lấy tôi hôn tới tấp và cảm ơn. Chiếc máy bay B52 đó rơi ở chợ Thá gần Núi Đôi (nay thuộc huyện Sóc Sơn) và cũng là chiếc máy bay Mỹ cuối cùng bị ta bắn rơi trong trận chiến đấu đêm 20 rạng ngày 21-12-1972 ở Hà Nội.

http://1000namthanglonghanoi.vn/upload/image/images/Bao%20tang%20chien%20thang%20B52.jpg
Bảo tàng chiến thắng B52. Ảnh internet

xNghe thiếu tướng Nguyễn Văn Phiệt kể tới đây tôi nhớ lại trong 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972 quân và dân Hà Nội đã bắn rơi 30 máy bay Mỹ trong đó có 23 chiếc B52 và 2 chiếc F111. Trong số 23 chiếc B52 thì có 16 chiếc bị ta bắn rơi tại chỗ. Riêng tiểu đoàn 57 của ông Nguyễn Văn Phiệt bắn rơi 4 chiếc B52 (có 2 chiếc rơi tại chỗ). Ngoài chiếc B52 rơi ở gần Núi Đôi còn một chiếc B52 nữa rơi ở chợ Bến (Hòa Bình) lúc 5 giờ 9 phút sáng 22/12/1972.

Nghe ông Nguyễn Văn Phiệt kể chuyện “Rồng lửa Thăng Long đốt cháy B52” tôi lại nhớ những lời ca ngợi của bạn bè quốc tế đối với chiến thắng của chúng ta. Catton Gutlet đã phát biểu trên báo “Thống nhất” số tết Quý Sửu 1973: “Cuộc chiến đấu anh hùng của Hà Nội Hải Phòng chống những đợt ném bom ào ạt của máy bay B52 của Mỹ vừa qua đã chứng minh trước thế giới rằng không gì có thể đánh bại được nhân dân Việt Nam. Cuộc đấu tranh vì tự do với lòng dũng cảm và ý chí kiên cường của các bạn đã củng cố niềm tin cho các dân tộc trên các lục địa châu Phi châu Á châu Mỹ latinh đang đấu tranh để tự giải phóng và giành quyền tự quyết”.
Nguồn tin: Triệu Chinh Hiểu

hotinhtam

Rồng lửa Thăng Long đốt cháy B52

Cách đây hai năm nhân dịp kỷ niệm lần thứ 35 năm “Chiến thắng Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” (12/1972 -12/2007) các nhà báo ở Hà Nội được gặp một số cán bộ chiến sĩ đã tham gia chiến đấu bảo vệ Thủ đô Hà Nội trong 12 ngày đêm cuối năm 1972.
Trong số này có ông Nguyễn Văn Phiệt. Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam đã giới thiệu về ông như sau: Nguyễn Văn Phiệt sinh năm 1938 quê ở Hưng Yên. Nhập ngũ năm 1960 được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang năm 1973 được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1990. Khi được tuyên dương Anh hùng ông là Thượng úy Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 57 tên lửa Phòng không thuộc Trung đoàn 261 Sư đoàn 361 Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân. Từ năm 1966 đến 1972 ông đã tham gia chiến đấu 85 trận điều khiển tên lửa và chỉ huy Tiểu đoàn bắn rới 19 máy bay Mỹ. Năm 1972 ông chỉ huy tiểu đoàn 57 Tên lửa bảo vệ Thủ đô bắn rơi 8 máy bay Mỹ trong đó có 4 chiếc B52.

Phố Khâm Thiên bị đánh bom. Ảnh tư liệu

Khi được hỏi về chiến công của Tiểu đoàn 57 ông Nguyễn Văn Phiệt kể:

“Đầu tháng 12/1972 tiểu đoàn của tôi đang chuẩn bị vào phía Nam chiến đấu thì được lệnh ở lại bố trí trận địa bên kia Chèm cùng với một số đơn vị của trung đoàn làm nhiệm vụ đánh máy bay B52 của Mỹ từ phía Tây - Bắc Hà Nội.

Đêm 18 tháng 12 trời lạnh buốt mùa đông giá rét. Vừa nhận được lệnh báo động thì máy bay địch đã ào áo bay tới. Đủ các loại máy bay B52 thật giả máy bay chiến thuật F4 F5 AD... loạn xạ ở các tầm thấp tầm cao gây nhiễu rất nặng khiến lúc đầu chúng tôi có phần lúng túng trong xác định mục tiêu. Đêm đó đơn vị tôi phóng hết 10 quả đạn mà không bắn rơi được một máy bay Mỹ nào. Đêm sau 19/12 khả quan hơn chúng tôi bắn 4 quả diệt được 1 chiếc B52.

hotinhtam

Quá trình chống nhiễu và thắng nhiễu của bộ đội Tên lửa:

Hành trình gian khổ và đầy sóng gió ấy bắt đầu từ cuối năm 1965 đến đầu năm 1966 khi không quân Mỹ lần đầu tiên gây "nhiễu ngoài đội hình". Những chiếc máy bay EB66 EC121 phát nhiễu điện tử từ xa che chở cho máy bay cường kích vào đánh. Nhiễu trắng xóa các màn hiện sóng trên đài điều khiển của ta. Tuy nhiên hồi ấy cường độ nhiễu còn nhẹ các trắc thủ ta vẫn còn nhìn thấy tín hiệu mục tiêu trên nền nhiễu để diệt được máy bay địch bằng cách đánh tối ưu: phương pháp điều khiển "nhìn thấy mục tiêu trong nhiễu".

Nhưng sang đầu năm 1967 không quân địch lại tung ra thủ đoạn mới gây "nhiễu trong đội hình". Bản thân mỗi máy bay đi trong đội hình tiến công đồng loạt phát nhiễu. Tất cả cộng lại giống như một "chùm nhiễu" khổng lồ vô hình cực mạnh chĩa thẳng về phía các ăng-ten ra-đa của đối phương. Màn hiện sóng của ta như những ô cửa sổ nhỏ bỗng bị che lấp bởi những tấm màn kẻ sọc với nhiều dải nhiễu lớn nhỏ đậm nhạt khác nhau đan xen vào nhau dày đặc che lấp hoàn toàn tín hiệu máy bay. Những chiếc máy bay bỗng trở thành vô hình trước mắt các trắc thủ.

Trong hơn nửa năm trời của năm 1967 bộ đội phòng không - không quân nhất là các tiểu đoàn tên lửa SAM2 ngày đêm vật lộn với đạn bom cùng biết bao khó khăn gian khổ mà bắn mãi vẫn không trúng không rơi máy bay địch.
Rồi trong gian khó cứ "bám trụ" mãi cái màn hiện sóng bé nhỏ ấy anh em ta đã nghiên cứu vận dụng thành công phương pháp chống lại thủ đoạn gây "nhiễu trong đội hình" bằng một cách khác. Đó là phương pháp điều khiển "không nhìn thấy mục tiêu trong nhiễu”.

Nhìn thấy mục tiêu trong nhiễu để bắn đã là khó. Giờ đây không nhìn thấy mục tiêu trong nhiễu mà vẫn hạ được máy bay địch đúng là khó tin nhưng đó là sự thật. Tính ưu việt của bộ khí tài Liên Xô cùng với trí thông minh của các chiến sĩ Việt Nam đã làm nên điều kỳ diệu ấy. Ngày 11 tháng 8 năm 1967 Tiểu đoàn 63 hạ tại chỗ một chiếc RF4C bằng phương pháp "không nhìn thấy mục tiêu trong nhiễu". Lập tức một cuộc họp rút kinh nghiệm được tiến hành ngay tại trận địa do Phó tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri trực tiếp chủ trì. Những bài học nóng hổi ấy đã được kịp thời phổ biến rộng rãi và biên soạn thành tài liệu. Sau đó là một cuộc tập huấn 7 ngày về cách đánh mới cho tất cả các kíp chiến đấu trong toàn Binh chủng Tên lửa. Máy bay Mỹ lại liên tiếp bị hạ (Chú thích: Riêng ngày 27 tháng 10 tên lửa của Hà Nội bắn rơi 5 máy bay đều bằng phương pháp "không nhìn thấy mục tiêu trong nhiễu".). Tháng 10 và tháng 11 năm 1967 là hai tháng quân dân Thủ đô ta "được mùa gặt hái" những máy bay Mỹ rơi và giặc lái Mỹ bị bắt sống.

Thế rồi không bao lâu sau có thể nói là rất nhanh vào giữa tháng 12 năm 1967 không quân Mỹ lại thay đổi thủ đoạn gây nhiễu một thủ đoạn mới nguy hiểm hơn làm cho đạn tên lửa ta


hotinhtam

Học tập tinh thần kéo pháo vào mặt trận Điện Biên Phủ năm xưa các chiến sĩ ra-đa lắm lúc cũng đã phải dùng sức người đưa máy lên chiếm lĩnh những ngọn núi cao giữa rừng già Tây Bắc hoặc có khi phải tháo rời từng bộ phận của khí tài dùng đôi vai để khiêng vác gùi thồ các khối máy móc nặng nề leo ngược dốc Trường Sơn để "vươn dài cánh sóng".
Bộ đội ra-đa còn táo bạo đưa những cỗ máy với nhưng giàn ăng-ten đồ sộ ra đặt giữa các cánh đồng trống trải không xa lắm mép biển của đồng bằng Bắc Bộ để "hạ thấp tầm nhìn".

Những vọng quan sát của bộ đội ra-đa bố trí ở những nơi đèo heo hút gió giữa lưng chừng núi trên biên cương hoặc giữa chốn mù khơi ngoài hải đảo mà cuộc sống vật chất ở đó trăm bề thiếu thốn kết hợp với đội trinh sát nhiễu của Quân chủng Phòng không – Không quân trên một đỉnh núi phía tây Quảng Bình cũng đã góp phần phát hiện máy bay địch kể cả B52 từ những khoảng cách rất xa.

Gian khổ khó khăn chồng chất không làm sờn lòng các chiến sĩ. Họ đã coi "đơn vị là nhà" "màn hiện sóng là trận địa". Nguyễn Văn Giằng đài trưởng ra-đa của Tiểu đoàn 8 Trung đoàn H93 đã từng nói lời tâm huyết: "Màn hiện sóng là hình ảnh thu nhỏ của Tổ quốc" một câu nói nặng tình nặng nghĩa với đất nước thân yêu (Chú thích: Với những thành tích xuất sắc đồng chí Nguyễn Văn Giằng đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 3 tháng 9 năm 1973.).

Vì Tổ quốc các chiến sĩ ra-đa không chịu khuất phục trước đạn bom và những quả tên lửa Sơ-rai của địch. Từ trên màn hiện sóng qua nhiều ngày tháng nghiên cứu tìm tòi cuối cùng họ đã tóm được kẻ thù và lôi nó ra khỏi màn nhiễu (Chú thích: Trắc thủ Đỗ Công Hoa thuộc Đại đội 12 Trung đoàn H90 là người đầu tiên của Binh chủng Ra-đa nhận diện được tín hiệu B52 trong màn nhiễu.). Hầu hết máy bay Mỹ xâm phạm vùng trời miền Bắc nước ta từ các máy bay chiến thuật đến máy bay chiến lược B52 từ độ thấp một vài trăm mét đến độ cao trên 10 ngàn mét (Chú thích: Kể cả máy bay có người lái trinh sát tầng cao SR71 bay ở độ cao 30 ngàn mét bay nhanh gấp 3 lần tốc độ âm thanh.) đều bị bộ đội ra da phát hiện để kịp thời báo về trung tâm hoặc để dẫn đường cho không quân ta bay lên tìm diệt máy bay địch.

Trong những năm chiến tranh bộ đội ra đa đã phục vụ rất đắc lực các binh chủng bạn lập nên biết bao chiến công xuất sắc từ chiến thắng ngày 5 tháng 8 năm 1964 trận giáp mặt đầu tiên giữa bộ đội phòng không và hải quân ta với không quân Mỹ đến những thành tích ra quân đánh thắng trận đầu của bộ đội không quân ngày 3 tháng 4 năm 1965 của bộ đội tên lửa ngày 24 tháng 7 năm 1965 và cuối cùng là chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" oanh liệt.

Còn nhớ trong buổi giao ban tại Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không - Không quân sáng 19 tháng 12 năm 1972 sau trận thắng giòn giã đầu tiên của chiến dịch Tư lệnh Lê Văn Tri bằng những lời giản dị đã biểu dương Binh chủng Ra-đa: "Đêm qua các đồng chí làm ăn rất tốt đã phát hiện địch sớm xác định đúng đối tượng B52 khi chúng đang bay vào Hà Nội. Binh chủng Ra-đa đã giúp Bộ Tư lệnh Quân chủng hạ quyết tâm chính xác kịp thời đưa toàn Quân chủng vào chiến đấu. Kết quả là ngay từ trận đầu chúng ta đã bắn rơi 3 B52 Mỹ".

Có thể nói bộ đội ra-đa đã "mở đường thắng lợi" cho các lực lượng phòng không - không quân trên toàn miền Bắc trong suốt chiến dịch 12 ngày đêm tạo điều kiện cho các binh chủng bạn liên tiếp lập công và chiến thắng.