cuối năm nói chuyện uống trà

Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4

Tương truyền chè sinh ra từ mi mắt của đức Phật Thích Ca do ngài lúc ngồi thiền buồn ngủ không thỉnh kinh được bực mình nhổ lông mi quăng xuống đất. Lông mi của ngài mọc thành những cây xanh tốt đồ đệ lấy lá nấu nước uống thì thấy tỉnh táo tinh thần sảng khoái vô cùng. Nhưng xét cho cùng quê hương của chè chính là vùng Tân Cương (Trung Quốc). Người Trung Quốc phát hiện ra cây chè và sử dụng chè từ TK17. Từ Trung Quốc chè làm một cuộc hành trình ra thế giới chinh phục hàng loạt quốc gia; đến nay đã trở thành một thứ nước giải khát được hàng trăm triệu người trên hành tinh ưa chuộng.

 

THƯỞNG TRÀ- THÚ VUI BÌNH DÂN MÀ VƯƠNG GIẢ

Hồ Tĩnh Tâm

 

 

Uống trà phải gọi là thưởng trà là cả một nghệ thuật đến nỗi có thể coi là TRÀ ĐẠO.

Người Việt ta gọi trà là chè chế ra từ cây chè. Việt Nam cũng là một quê hương của chè là một trong những cái nôi cổ nhất của cây chè. Trên vùng núi cao Suối Giàng(Nghĩa Lộ) tới nay vẫn còn hơn bốn vạn cây chè hoang trong đó có những cây cao tới 10 mét hai ba người vòng tay ôm không xuể; tuổi thọ có cây từ 70 đến 100 tuổi.

Theo sử sách đầu TK20 người Pháp đã lập đồn điền chè đầu tiên ở Phú Hộ (Phú Thọ) Bảo Lộc (Lâm Đồng) Bầu Cạn (Gia Lai). Khoảng từ năm 1939 Việt Nam đã trở thành một nước xuất khẩu chè có vị trí trên thế giới với các loại chè đen chè xanh chè hương cao cấp. Nổi tiếng ở nước ta là chè đặc sản Tân Cương (Thái Nguyên) chè Lục (Yên Bái) chè Vàng (Hà Giang) chè Suối Giàng (Nghĩa Lộ) chè Bảo Lộc (Lâm Đồng)…

Tương truyền chè sinh ra từ mi mắt của đức Phật Thích Ca do ngài lúc ngồi thiền buồn ngủ không thỉnh kinh được bực mình nhổ lông mi quăng xuống đất. Lông mi của ngài mọc thành những cây xanh tốt đồ đệ lấy lá nấu nước uống thì thấy tỉnh táo tinh thần sảng khoái vô cùng. Nhưng xét cho cùng quê hương của chè chính là vùng Tân Cương (Trung Quốc). Người Trung Quốc phát hiện ra cây chè và sử dụng chè từ TK17. Từ Trung Quốc chè làm một cuộc hành trình ra thế giới chinh phục hàng loạt quốc gia; đến nay đã trở thành một thứ nước giải khát được hàng trăm triệu người trên hành tinh ưa chuộng.

Ở Việt nam ta cách thức uống trà thật muôn hình muôn vẻ: chè đen chè xanh chè vàng chè hương; chè nấu chè pha chè ủ;.. chè uống với đường với sữa với bơ;.. chè để nguyên dạng chè ủ men chè ướp với hương của các loài hoa chè sao tẩm với với các loại gia vị làm tăng thêm độ đậm đà hấp dẫn tăng thêm giá trị dinh dưỡng giá trị dược liệu cho chè.

Ở Việt Nam ta có câu: CHÈ TAM RƯỢU TỨ. Xét theo triết lý âm dương rượu là thứ nước do người phương Tây phát minh chè là thứ nước do người phương Đông phát hiện; phương Tây ở về phía Bắc thuộc dương là số chẳn phương Đông ở về phía Nam thuộc âm là số lẻ. Có ba người là đủ luận anh hùng. Uống trà là thưởng trà là để tận hưởng hương vị để đàm luận văn chương thế sự. Rượu có thể uống ừng ực cả ly cả bình; nhưng trà mà uống vậy thì bị coi là ngưu ẩm- chỉ phí trà mà thôi.

Đơn giản nhất là nấu chè lên mà uống. Lối bình dân vẫn thích uống chè xanh. Cứ việc để nguyên cành lá cho vào nồi mà nấu rồi hãm thêm gáo nước lạnh để giữ màu. Nồi nước được ủ kín để uống cả ngày rất tiện cho người lao động đồng áng. Sang hơn thì vặt từng lá vò ra mà hãm vào bình tích. Chè xanh đặc quánh đi với điếu thuốc lào cũng là cái thú dân gian ở đời. Pha trà bằng ấm rồi chuyên ra chén tống chén hột mít đôi khi cầu kỳ tới mức thành vương giả. Uống kiểu này có người ngoài việc kén chè còn kén cả hương vị ấm chén nước để pha than để nấu;.. pha được ấm chè ngon không phải chuyện  thường tình.

Ngày xưa miếng trầu là đầu câu chuyện. Từ khi chè xuất hiện trong văn hóa ẩm thực tiếp khách mà không có ấm chè thì… nó cứ lễnh lãng thế nào ấy. Rất nhiều người tiếng là đi uống cà phê tình thực chỉ là để đi thưởng chè của quán. Ngay tới cà phê cũng phải mượn chè để giữ khách- chủ quán muốn mất khách thì cứ việc pha chè bồm!

Chè vị đắng tính hàn có tác dụng tiêu độc giải nhiệt nhuận phổi lợi tiểu. Người khỏe mạnh uống chè có thể hạ hỏa. Nhưng người già yếu hư hàn huyết nhược uống nhiều chè đặc lại dễ bị tính hàn của chè xâm nhập cơ thể làm sinh bệnh. Chè có nhiều ca phê in ta nanh vitaminC… có tác dụng kích thích trung khu thần kinh người hay mất ngủ cũng không nên uống- nhất là uống vào lúc chiều hôm. Ngay cả người khỏe mạnh dân gian cũng chỉ khuyên nên CHÈ SỚM RƯỢU TRƯA mà thôi.

Y học cổ truyền thường dùng nước chè đặc để giải độc giải rượu trị bỏng trị loét dạ dày tá tràng chống buồn nôn say sóng say tàu xe… Người lao động chân tay dùng chè để chống mỏi mệt. Người lao động trí óc dùng chè để tăng cường năng lực tư duy làm cho trí óc minh mẫn sảng khoái. Chè còn làm tăng khả năng bài tiết của thận chống sỏi thận làm lợi đường ruột tăng cường bài tiết mồ hôi chống được bệnh béo phì xơ mỡ động mạch cao huyết áp… làm cho da dẻ mịn màng. Ngày nay người ta còn phát hiện ra chất ta nanh có trong chè có thể hạn chế và trong chừng mức nào đó còn trị được bệnh phóng xạ ngăn ngừa cơ thể bị ion hóa bị các dạng ung thư khác nhau.

Trong thời đại ngày nay sự tràn ngập của hàng trăm thứ nước giải khát vẫn không thể nào đánh bật được vị trí của chè trong đời sống tâm hồn và tình cảm của người Việt Nam chúng ta. Hôm qua và hôm nay và mãi mãi về sau chè vẫn cứ là người bạn tri âm tri kỷ với chúng ta trong cuộc sống thường nhật.

Mỗi ngày nâng chung rượu thưởng chén chè chính là để cho tâm hồn thêm lâng lâng sảng khoái để thêm cảm nhiều hơn hương vị cuộc đời. Thưởng trà chính vì vậy là cả một thú vui bình dân mà vương giả!


HTT