ĐỒNG ĐỘI tr.tiểu thuyết của Hồ Tĩnh Tâm

ĐỒNG ĐỘI tr.tiểu thuyết của Hồ Tĩnh Tâm
 

Sáng hôm sau Lâm cùng một số đồng đội được cử đi Tà Nu lĩnh gạo. Đi thì phải đi chứ dân Xoài Riêng thiếu gì gạo. Lính ta đóng quân ở nhà nào nhà đó cho xúc gạo ăn thoải mái. Đó là thứ gạo trắng hạt nhỏ và dài nấu cơm vừa thơm vừa dẻo.

Đồng đất Xoài Riêng bằng phẳng khô không khốc. Thỉnh thoảng có những cánh rừng dầu cổ thụ nổi lên um tùm rợp mát. Nhưng thốt nốt vẫn là thứ cây phổ biến nhất. Nhiều cây gốc to đến mức phải hai người mới ôm xuể. Thân cây tua tủa gai những nhánh lá đã bị chặt vươn vun vút lên trời bên trên lúc lỉu những chùm ống tre treo lủng lẳng. Đó là ống tre người dân dùng để hứng nước chảy ra từ cuống những chùm qủa non đã bị chặt. Người ta lấy nước đó nấu thành đường hoặc lên men làm nước giải khát.

 

Khi mới đến Sóc Tà Lung lần đầu tiên Lâm nhìn thấy cây đào lộn hột. Cả một cánh rừng với không biết bao nhiêu là cây. Cây nào cũng chiu chít từng chùm qủa. Qủa xanh qủa vàng qủa đỏ. Ăn vừa ngòn ngọt vừa chua chua vừa chan chát; mùi hương thơm như mùi mật. Điều khiến Lâm thích nhất là ban đêm xách đèn pin đi soi bắt tắc kè dưới gốc những cây thốt nốt. Con nào cũng to như cán dao da nổi gai sần sùi lấm tấm đủ sắc màu xanh đỏ vàng nâu rất đẹp. Anh bắt để ngâm rượu. Bắt được nhiều thì lột da bằm nhuyễn ra chiên giòn. Lâm chưa bao giờ ăn tắc kè nhưng khi còn học cấp 3 anh đã đọc một cuốn sách nói về giá trị dinh dưỡng của tắc kè. Cuốn sách ấy còn dạy cả cách nuôi cách sử dụng tắc kè.

Nhớ lần đầu tiên đến Tà Lung Lâm và Phương xách thùng ra đồng kiếm cá. Cánh đồng ngun ngút trải rộng tới chóng mặt. Đi mãi mới gặp một con đìa chạy dài hun hút. Lâm mở nắp qủa lựu đạn chày tống một qủa xuống nước. Sau tiếng nổ nhìn thấy tôm cá chết trắng trên mặt nước cả hai hoảng sợ bỏ chạy vì nghĩ đó là cá của dân nuôi. Đang chạy thì gặp anh Ruộng trợ lý quân khí xách thùng đi ra. Anh Ruộng cười hì hì. “Cá đồng chứ ai mà nuôi. Cứ bắt thoải mái. Chỉ sợ không khiêng nổi”.

Thấy Lâm và Phương bắt những con cá chết nổi trên mặt nước anh Ruộng lại cười:

- Đúng là lính mới tò te. Chết nổi là cá trắng. Cá đen chết chìm ở dưới mò xuống mà bắt. Lần sau nhớ mượn dân cái chài đừng chơi lựu đạn kiểu này.

Qủa nhiên khi mò xuống nước Lâm và Phương lôi lên những con cá lóc to như cổ chân. Đó là cá chuối cá qủa ở ngoài Bắc. Có con to đến mức cái đầu bạc phếch ra. Những con như vậy anh Ruộng khuyên nên vứt đi bởi to qúa ăn không ngon. Cá lóc cỡ cổ chân cổ tay là ngon hơn cả. Nhưng ngon nhất có lẽ vẫn là cá rô mề cá sặc rằn cá trê vàng. Thấy anh Ruộng chú tâm tìm bắt những thứ cá đó Phương và Lâm cũng bắt chước làm theo.

Bây giờ đi trong đội hình lấy gạo của tiểu đoàn Lâm càng cảm hơn vẻ đẹp như cổ tích của những cánh rừng dầu. Đây là những cánh rừng ở đồng bằng không chằng chịt dây leo không lởm nhởm đất đá. Trên đầu là bóng rợp tán cây dưới chân là cát mịn vàng óng lên như mật. Giá như có Phụng ở đây mà trò chuyện thì…

 

Lâm cùng đoàn lấy gạo đến Tà Nu vào lúc mặt trời đã gần đứng bóng. Mỗi người phải cõng 15 ký gạo. Đang làm thủ tục xuất kho bỗng Lâm nghe tiếng phản lực gầm lên ở bên kia biên giới. Vọt ra ngoài Lâm nhìn thấy hàng đàn trực thăng đã bay chui chúi rất gần. Rồi cả tiếng gầm của xe tăng xe thiết giáp. Chẳng lẽ lính sư 7 hay sư 9 đang chuẩn bị càn qua biên giới? Nhưng sao bộ đội và cán bộ ở đây người nào cũng tỉnh bơ như không xãy ra chuyện gì. Ngay cả khi tiếng bom tiếng pháo gầm lên cũng vậy.

Trần Oanh trợ lý chính trị tiểu đoàn nói với Lâm:

- Vợ ông Cao Văn Viên bày trò dội bom nả pháo để bán xe tăng và vũ khí đó. Làm ì đùng một lúc rồi ra lệnh bỏ xe bỏ súng tháo chạy. Vậy là thành của ta. Ta được của còn bà ta được tiền. Chế độ Sài Gòn chức quận trưởng tỉnh trưởng cũng bán.

Có lẽ như thế thật. Không đầy nửa tiếng sau tiếng súng bên kia biên giới đã im bặt. Tà Nu vẫn ồn ào nhịp sống.

Lâm lôi cuốn nhật ký ra ghi:

Tà Nu ngày… tháng…

Lạ thật! Chẳng lẽ vợ ông đại tướng tư lệnh  quân lực Sài Gòn lại bán xe tăng bán vũ khí cho cộng sản? Họ còn bán những gì nữa!

Chợ Tà Nu sung túc qúa! Hàng hóa ê hề.  Mình chưa bao giờ thấy hàng hóa nhiều và đẹp như thế. Radio và máy nghe nhạc đầy ăm ắp. Đồng hồ đủ kiểu. Cái Slava của mình chẳng nghĩa lý gì.

 

Lâm nhớ lại thời học sơ tán ở Thạch Thành.

Bấy giờ mới lớp 7 Lâm đã được chị ruột từ Liên Xô gởi về cho cái đồng hồ Slava. Ở vùng bán sơn địa vào năm 67 có được cái đồng hồ là oách lắm. Vậy mà sau đó má anh lại được mua cung cấp một chiếc xe đạp thống nhất. Rồi ba anh gởi từ Hà Nội vào cho cái đài bán dẫn Xionmao. Cả trường cấp 2 Thạch Bình rồi sau đó là cấp 3 Thạch Thành đều phải lác mắt. Với số tài sản ấy Lâm giàu hơn cả thầy cô giáo hơn cả thầy hiệu trưởng.

Khi Lâm lên trường địa chất ở Thái Nguyên anh để lại tất cả chỉ đem theo chiếc đồng hồ slava và cây đàn ghita. Chuyện cây đàn ghita cũng khá lý thú.

Vào khoảng năm 65 khi gia đình Lâm đang sống sơ Tán ở Nghi Xuân Nghi Lộc có đoàn văn nghệ sĩ đi thực tế sáng tác chiến trường ghé qua. Nghe nói trong đoàn có cả nhà thơ Chế Lan Viên nhà thơ Phạm Hổ và nhạc sĩ Hoàng Vân nhạc sĩ Huy Du. Chị Hai của Lâm lúc đó đang học cấp 3 là một cây văn nghệ có tiếng. Không biết ông nhạc sĩ nào khi ra đi đã tặng chị cây đàn mandolin làm kỷ niệm. Nhờ chị và nhờ cây đàn ấy Lâm vỡ lòng được thế nào là đồ rê mi là âm hình nốt nhạc.

Sau năm 68 khi cả nhà theo trường đại học Sư phạm Vinh trở về Quỳnh Minh Quỳnh Lưu cây mandolin bị mất. Thấy Lâm buồn vì không có đàn để chơi má anh đã lặn lội ra tận Hà Nội mua cho anh một cây đàn ghita giá 46 đồng. Đó là một số tiền rất lớn so với tiền lương 75 đồng của bà. Nhờ cây đàn này Lâm kết thân khắng khít với Sĩ Dũng Hữu Thành Văn Thắng; làm thành bộ tứ nổi tiếng của trường cấp 3 Quỳnh Lưu I. Trong bộ tứ Sĩ Dũng là người tài hoa nhất chơi đàn hay nhất; người chơi tệ nhất là Lâm. Bốn người bốn cây đàn ghita hồi đó là chuyện lạ. Đã thế Sĩ Dũng còn có cả một cây đàn acordéon loại 120 bát. Lớp 9A rồi lớp 10A của Lâm bùng lên phong trào văn nghệ. Do hoạt bát học giỏi Lâm được bầu làm lớp trưởng là chuyên gia giải toán khó cho cả lớp.

Năm lớp 9 thầy Thứ dạy văn rất thích Lâm vẫn thường gọi Lâm đến nhà ăn cơm chung với thầy. Chính thầy là người vỡ vạc cho Lâm thích văn học Trung Quốc và Ấn Độ. Thầy khuyên Lâm nên chú tâm nhiều hơn vào văn học. Nhưng lúc đó Lâm không mặn mà với môn này lắm. Với Lâm chỉ có toán lý hóa mới là tất cả. Dù thầy Thứ lôi kéo thế nào anh vẫn không bỏ được bộ tứ vốn thích đàn hát và thích toán lý hóa của mình. Chính nhờ Dũng Thành và Thắng Lâm bắt đầu biết thế nào là nhịp phách là giai điệu và tiết tấu.

Sĩ Dũng họ Nguyễn được một cha cố ở nhà thờ Quỳnh Lưu nhận làm con. Mẹ Dũng vốn là minh tinh màn bạc thời Pháp đã chết ngay từ khi Dũng còn rất nhỏ. Cha Dũng bị dính tới vụ án nhân văn giai phẩm đã bỏ chạy vào Nam từ năm 60. Vì vậy dù rất tài hoa Dũng vẫn không được vào Đoàn. Dũng lớn hơn đám bạn trong bộ tứ chừng ba bốn tuổi. Nếu Lâm là linh hồn của nhóm thì Dũng là trụ cột. Mỗi ngày Dũng chỉ cần nhận lau dầu ba bốn cái đồng hồ là rủng rỉnh tiền bạc. Lau dầu đồng hồ ba đồng môt cái mà tô phở chỉ có ba hào cốc xi rô chỉ một hào. Đã thế Dũng còn biết sửa radio biết vẽ tranh vẽ bản hiệu để kiếm tiền. Nhờ Dũng mà cả nhóm trong bộ tứ biết thế nào là họa tiết bố cục là mảng khối là hòa sắc là tỉ lệ là các trường phái trong hội họa. Những kiến thức ấy có lẽ cha cố đã dạy cho Dũng.

Tài hoa là vậy nhưng Dũng học chỉ vào loại trung bình khá. Còn Thành và Thắng đều là những tay giỏi toán nổi tiếng của cả trường. Nếu kể về toán còn phải nói tới Hoàng Lễ Vình và Thanh Tâm quê ở làng Quỳnh Đôi. Cả hai giỏi một cách lặng lẽ. Họ vẫn ngấm ngầm cạnh tranh ngôi thứ với bộ tứ của Lâm. Lúc đó Lâm được coi là người giải toán nhanh nhưng Vình lại là người luôn có cách giải độc đáo và ngắn gọn. Chính vì vậy thầy Hưng dạy toán đã sửa lại tên cho Vình là Hoàng Lê Vinh.

Một lần Thanh Tâm nấu chè nếp mời thầy Thứ và bạn bè đến nhà ăn. Tất cả quây quần trên cái sân gạch xung quanh một ngọn đèn dầu bình đèn làm bằng đồng. Gió biển đang thổi rười rượi bỗng giật lên làm ngọn đèn tắt phụt.

Thầy Thứ hỏi:

- Đố các trò! Lửa tắt bay đi đâu?

Cả bọn đang ngơ ngác thì Thanh Tâm lên tiếng:

- Thưa thầy lửa tắt bay lên trời ạ!

- Sao thầy không thấy. Có ai thấy không?

Thanh Tâm nhanh nhảu:

- Tích tắc nó đã bay được 300 ngàn cây số thấy mần răng được ạ.

Thanh Tâm nói năng hoạt bát nhưng giải toán lại rất chậm. Cô ta cứ cẩn thận tiến hành từng bước từng bước. Bao giờ cũng đúng với các bước mà thầy Hưng đã dạy. Đã thế chữ nghĩa và các con số lại được nắn nót tỉa tót tới từng nét. Bài kiểm tra bao giờ cũng sạch và đẹp luôn được biểu dương cho cả lớp.

Có lần Lâm tổ chức cho lớp lên Nghĩa Đàn lấy củi về bán gây qũy. Đó là vào dịp được nghỉ lễ mấy ngày. Anh Dần chủ nhà trọ của Lâm cho mượn một chiếc xe ba gác. Bạn bè kiếm thêm được ba chiếc khác. Thành mượn được một cái xe bò. Sĩ Dũng Thắng và Lâm mỗi người có một chiếc xe đạp. Cả lớp ra quân một cách rầm rộ. Dao rựa dao quắm và dao tông của bộ đội. Cả bốn cây đàn cũng được mang theo. Thấy vui thầy Thứ cũng đi cùng.

Đêm đầu tiên đám con gái nấu một nồi cháo vịt bê ra ngồi ăn ngoài sân. Không có đèn không có trăng chỉ có sao trời lóng lánh.

Thầy thứ nói:

- Đêm nay ta ăn cả trời.

Thanh Tâm nói:

- Nhưng thầy ơi trong đọi của thầy chỉ có sao thôi.

- Cả cái đùi và phao câu nữa. Nì thầy tặng Thanh Tâm trái tim… vịt nì!

Cả lớp phá ra cười như nắc nẻ.

 

Vào một buổi chiều khi Lâm vác cây đàn trên đường từ nhà trọ của Sĩ Dũng về nhà anh Dần Lâm gặp Hòa Bẩm nơi gốc cây gạo gần lèn đá.

Hòa rủ leo lên lèn đá ngồi chơi và hứa sẽ kể cho nghe một chuyện.        

Lớp 9A lúc đó có hai người tên Hòa. Hòa Bẩm đẹp nhưng trắng và hơi mập hơi có vẻ người lớn. Hòa Tèo cũng đẹp nhưng ốm hơn có nét thanh thanh như Natasa trong ”Chiến tranh và hòa bình” của L.Tonxtoi. Cả hai đều là niềm tự hào về nhan sắc của cả lớp. Ối anh lớp 10 nhòm ngó. Có điều Hòa Bẩm là dân miền bán sơn địa ở Nghĩa Đàn đi học muộn nên đã lớn hơn tuổi bình quân của cả lớp; còn Hòa Tèo là dân thị trấn Cầu Giát nhỏ hơn Hòa Bẩm tới ba tuổi.

Lâm và Hòa leo lên lèn đá ngồi nhìn về hướng sông Thai. Hoàng hôn buông chầm chậm. Ráng chiều chín ửng như màu hồng trứng gà. Không biết làm gì nên Lâm ôm đàn lên gãy lửng tửng mấy nốt nhạc. Phải một lúc lâu Hòa mới nói:

- Chiều thứ bảy thầy Thứ đạp xe lên nhà Hòa tặng Hòa một tập thơ.

- Hay không?

- Hay. Thơ của Êxơnhin.

- Rứa là nhất rồi. Được thầy chủ nhiệm tặng thơ nhất rồi còn chi nữa.

- Hòa tặng lại Lâm đó.

- Răng rứa hề.

- Không mần răng cả. Tại Hòa nỏ thích.

- Thơ Êxơnhin mà nỏ thích?

- Hòa nỏ thích thầy Thứ. Thầy có vợ rồi mà còn…

Lâm biết Hòa định nói gì nên ngăn lại.

- Về thôi Hòa ơi! Tối ni bên Quỳnh Thọ chiếu phim “Chú bé Digan”.

 

Thầy Thứ vốn là thần tượng của Lâm vì thầy làm thơ rất hay vẫn thường đọc thơ của thầy cho cả lớp nghe. Nhưng từ hôm nghe Hòa Bẩm nói chuyện tập thơ tự nhiên Lâm thấy trong mình có gì đó bị sụp đổ. Lâm không còn thích tới nhà thầy ăn cơm nữa. Lâm hình dung ra đủ chuyện về thầy khi chỉ có thầy với Hòa trong ngôi nhà của Hòa ở Nghĩa Đàn. Trong lớp ai mà không biết Hòa đang sống với người bà nội già yếu. Mẹ Hòa đã mất cha Hòa đang ở chiến trường Hòa lại đẹp một cách rực rỡ. Hòa như bông hoa nở tung cánh của tuổi xuân. Chẳng lẽ một người thầy như thầy Thứ lại làm như thế? Lâm vẫn thường nghe thầy kể về gia đình thầy ở Thanh Chương. Cả được xem ảnh của vợ con thầy. Người vợ trông hiền và nhỏ. Còn đứa bé chắc nó cũng bằng đứa con trai của anh Dần cũng khoảng năm hay sáu tuổi gì đó. Đôi mắt nó trong veo ngây thơ như mắt thỏ.

Lâm kể lại chuyện đó với Sĩ Dũng. Sĩ Dũng phẩy tay. “Chuyện vặt. Hơi mô mà quan tâm. Mi đệm được bài “Cây đàn bỏ quên” chưa?”. Đó là một bài hát của Phạm Duy Sĩ Dũng đã chép cả lời lẫn nhạc tặng cho Lâm. Sĩ Dũng vẫn hay nghe lén đài Mẹ Việt Nam và Gươm thiêng ái quốc của Sài Gòn. Dũng nghe để học nhạc tiền chiến. Thuộc được bài nào thì Dũng ký âm ra bài đó. Nào là Suối mơ Thiên Thai Sơn nữ ca Giọt mưa thu con thuyền không bến hòn vọng phu… và cả Cô Thắm về làng. Lúc bấy giờ đó là nhạc cấm. Chỉ có Sĩ Dũng mới gan tày trời mới dám chép ra. Dũng không phải là đoàn viên lại sống từ nhỏ trong nhà thờ có lẽ vì vậy mà Dũng không biết sợ.

Sang năm lớp 10 thầy Thứ xin chuyển được về dạy ở quê; thay thầy dạy văn là thầy Quế. Thấy Quế nguyên là cầu thủ bóng đá của quân khu bốn học ngành văn thuộc hệ đại học ba năm khóa đầu tiên của trường đại học sư phạm Vinh. Khác với tính trầm lặng của thầy Thứ thầy Quế lúc nào cũng hừng hực như lửa cháy. Thầy lôi kéo bộ tứ của Lâm vào đội văn nghệ vào đội bóng của nhà trường. Giờ dạy của thầy bao giờ cũng hừng hực. Chí Phèo đẹp hay xấu? Xấu à? Thế tại sao bà Ba vợ Bá Kiến lại mê như điếu đổ lại kêu lên nhà trên bảo khóa cửa lại lại đây bóp chân cho bà? Mà lại “Bóp từ dưới bóp lên. Bópp lên. Bóp lên tí nữa”. Đamsan chặt cây thần để chống tục nối dây ư? Thế tại sao khi H/Nhí H/Bhí chết chàng lại đánh nhau với trời bắt trời phải cho cả hai nàng sống lại? Tào Tháo là anh hùng hay gian hùng? Xét về quân sự việc du kích rút vào hang Hòn có nên không? Cả lớp lúc nào cũng bị cuốn vào những câu hỏi của thầy những trích đoạn thơ văn của thầy. Đám con gái mê thầy như điếu đổ.

Cùng về trường một lượt với thầy còn có cô Nụ cũng dạy văn.

Thầy Quế là giáo viên chuyển trường. Cô Nụ là sinh viên mới ra trường mới có chồng là một giáo viên đại học dịch thuật nổi tiếng. Thầy Quế tài hoa bao nhiêu thì cô Nụ đẹp bấy nhiêu. Cô đẹp và trẻ như một nữ sinh. Đứng bên cô Hòa Bẩm lại có vẻ còn người lớn hơn cả cô. Nhiều lúc đi ngang qua thấy bộ tứ của Lâm ôm đàn ca hát cô cũng nhập vào như một người bạn.

Cũng giống thầy Thứ thầy Quế rất mến Lâm thường kêu Lâm đến nhà ăn cơm với thầy. Có lần thầy nói: “Em vốn là học sinh Miền Nam lại học giỏi chắc chắn xong cấp 3 sẽ được cử đi nước ngoài. Hay là qua đây ở luôn với thầy cho vui! Thầy sẽ chỉ vẻ thêm cho”. Nhưng Lâm không thể bỏ bộ tứ của mình được. Với lại bước vào năm lớp 10 chú Xý đã nói: “Cháu với Thu Hiền là hai anh em cùng Khoa toán đi học cháu phải giúp em nó để cùng tốt nghiệp cấp 3”. Vậy là Lâm kéo Hiền sang ở trọ cùng nhà với mình. Bằng tuổi nhau nhưng Lâm tự cho mình là anh là có quyền bắt Hiền phải học theo cách của Lâm. Mà Hiền thì đúng là Hiền thật. Hiền như lá trúc mùa thu. Hai đứa hai cái giường kê ở hai đầu gian trái nhà. Một nồi cơm một tô canh dĩa muối vừng vài ba con cá. Quấn quýt tự nhiên như anh em ruột.

Cho đến một hôm Hòa Bẩm nói:

- Cái Hiền nó lớn rồi sống chung với nhau người ta tưởng…

Từ đó Lâm chuyển sang nhà anh Cu Dần.

 

Anh Cu Dần là bộ đội giải ngũ nên còn trẻ. Lâm không hiểu vì sao anh lại giải ngũ khi mà sức vóc của anh còn rất tốt. Nhà anh cất thoi loi ở rìa làng gần con mương đào cách lèn đá chừng hơn cây số. Anh là đội trưởng đội nổ mìn phá đá của Hợp tác xã. Họ vẫn thường thay nhau chia ca trực một khẩu trọng liên trên đỉnh lèn đá.

Anh chị có một đứa con trai tròn như củ khoai chắc lòi lọi chừng năm tuổi gì đó tên là Cu Tý. Nó nghịch như giặc nhưng lại rất ngoan. Hàng ngày nó hay vào làng nhập bọn với trẻ để chạy nhảy hò hét. Mỗi khi về nhà nó không trầy da rách áo thì đầu cũng u một cục. Vậy nhưng nó không bao giờ khóc. Nó tự động vào bếp lục cơm nguội. Buổi tối tự phủi chân đi ngủ. Nếu chưa ngủ thì nó quấn quýt vòi Lâm dạy hát. Nó gần gũi với Lâm nhiều hơn cha và mẹ.

Mẹ nó là chị Dần bụng chửa to như trống cái vẫn đeo đuổi công việc hợp tác. Chị Dần cũng trẻ và khỏe nhưng đẹp và hiền như cục đất. Hòa Bẩm từng nói: Lớp mình không ai đẹp được như chị. Nhưng Lâm thấy chị Lý em ruột chị Dần mới đẹp. Lý hơn Lâm hai tuổi sống với người mẹ mù lòa ở trong làng. Da chị Lý trắng và mịn. Tóc chị Lý dài và đen. Giọng chị Lý trong văn vắt hát như chim hót. Học hết cấp 2 thì Lý nghỉ ở nhà nuôi mẹ. Thỉnh thoảng Lý vẫn sang nhà anh chị ngồi hát với Lâm một hai bài.

Vào một buổi sáng mưa lắc rắc Lâm đang ngồi học thì thấy có anh thanh niên tìm đến nói rằng cần gặp anh Dần có việc. Thấy anh ta ngồi mãi mà chưa nói gì Lâm biết ý ôm sách xuống bếp. Được một lúc bỗng nghe tiếng anh Dần quát lên: “Cút! Mày cút ngay! Đồ hèn!”. Nhìn ra Lâm thấy anh thanh niên ôm tấm ni lông cúi đầu chạy lùi lũi.

- Sao vậy anh Dần?

- Thằng hèn! Nó nhờ anh chỉ cách uống thuốc làm rối lọan nhịp tim để trốn nghĩa vụ. Ăn cú đấm hộc máu mới chuồn.

Trưa đó anh Dần nói:

- Anh đi củi trên Nghĩa Đàn. Em ở nhà canh chừng chị giùm anh. Nếu chị chuyển bụng chạy vô làng kêu chị Lý.

Anh Dần xách xe đạp ra đi được một lúc chị Dần cũng đi. Chị theo bạn xuống Lạch Quèn bắt đồn đột. Cu Tý vào làng nhập bọn với trẻ con rồi ở luôn trong đó với bà ngoại.

Buổi chiều Lâm đi học về. Chị Dần cũng về tới. Chị ngồi làm đồn đột bên giếng nước. Những con đồn đột to như ngón tay cái da đen và nhùn nhũn như đỉa trâu. Con nào đầu miệng cũng lo le thò ra thụt vào cục thịt đỏ hon hỏn. Dân biển Quỳnh Lưu gọi nó là con *** lỏ. Coi xấu xí nhưng thịt nó ăn rất ngon rất bổ. Chị Dần đi cả buổi cũng chỉ bắt được nửa rỗ cảu tre. Của qúy có bao giờ nhiều.

Gần đến giờ cơm Lâm nói:

- Em vào làng gọi thằng Tý về ăn cơm?

- Kệ nó. Để nó ngủ với bà.  Trời đang chuyển mưa đi chi cho khổ.

- Anh Dần đi củi để em kêu chị Lý ra ngủ với chị?

- Con Lý còn chuyện đoàn xã chuyện kế toán hợp tác bà thì già cả lú lẩn. Lúc nào cần mới gọi.

Lâm ăn xong ngồi đánh đàn một lúc rồi mới học bài. Học cho có còn thì Lâm chúi vào đọc cuốn “Ai Van Hô” mới mượn được của Thu Hiền. Cuốn sách hay tới hớp hồn từng trang. Trong sách các nhân vật hừng hực sống. Ngoài trời oi bức và ngột ngạt tới đổ tháo mồ hôi. Trời nóng mau thấm mệt. Khoảng mười giờ tối Lâm tắt đèn đi ngủ.

Ai Van Hô đang đánh nhau với võ sĩ đầu bò. Tiếng gươm va vào nhau loảng xoảng. Tiếng ngựa hí vang rền. Rồi tiếng thần công nổ ầm ầm. Rê Béc Ca bị bắt giữ bị trói chặt đem lên giàn lửa. Nàng quằn quại rên xiết. Tiếng khóc của nàng quặn đau xé lòng xé ruột. Càng lúc càng to. Càng lúc càng đau đớn. Cha nàng qùy dưới đất vung cả hai cánh tay gầy guộc lên trời cầu chúa. Một bó đuốc ném vào giàn lửa. Khói lửa bốc lên ngùn ngụt. Tiếng Rê Béc Ca kêu cứu xé cả ruột gan.

Lâm giật mình ngồi bật dậy. Trong buồng có tiếng chị Dần rên rỉ đau đớn. Chợt nhớ lời anh Dần dặn Lâm tụt xuống giường chạy tới của buồng. Chị Dần ôm chặt chiếc gối vào lòng đang quằn quại. Ngoài trời mưa gió sấm chớp ầm ầm.

Khoác vội tấm ni lông Lâm tông cửa chạy vào làng kêu chị Lý.

Lý quáng quàng vơ vội một số đồ nhét vào cái giỏ mây. Dúi vào tay Lâm ngọn đèn bão Lý theo Lâm chạy vội ra bìa làng. Đường lầy trơn trợt Lý vừa chạy vừa ngã oành oạch. Lâm cũng bổ sấp bổ ngửa. Ngọn đèn bão tắt phụt. Đêm tối như cắn vào được. Mưa quất ràn rạt. Chớp xé rách trời. Sấm gào điên loạn.

Tới nơi Lý nói như chỉ huy:

- Lâm nấu thêm nồi nước.

Lâm nhào xuống bếp. Lửa củi vừa phực lên đã lại nghe tiếng Lý:

- Lâm cái khăn bông chỗ mô?

Kiếm được cái khăn chưa kịp đưa đã nghe Lý ra lệnh:

- Kéo cồn bông băng trong giỏ. Đem hết tới đây.

Loa lóa trước mắt Lâm là cái bụng căng phồng vươn cao như ngọn núi của chị Dần. Lý ngồi dưới chân giường dùng cả hai tay đẩy hai đùi chị Dần lên xuống. Lý vừa đẩy vừa khóc. “Cố lên chị ơi! Chị tham chi mấy con đồn đột cho khổ rứa hề. Cố cố lên chị ơi!”. Chắc là Lý cũng chẳng biết gì ngoài việc vừa khóc vừa đẩy đẩy hai đùi của chị ruột. Nhìn thấy vũng máu ướt sũng dưới giường Lâm chóng cả mặt nghĩ rằng chị Dần sẽ chết mất thôi. Máu ra nhiều thế làm sao mà sống nổi.

Đang lúc cả hai cùng lúng ta lúng túng thì có ba bốn người đàn bà trong xóm chạy ra. Họ đẩy cả Lý và Lâm ra ngoài. Được một lúc nghe có tiếng khóc oa oa vang như lệnh vỡ trong buồng. Lý ôm chầm lấy Lâm. “Ra rồi!”. Lý hôn chụt vào má Lâm một cái rồi buông ra chạy vội vào buồng. “Con trai. Thằng này còn khỏe hơn anh nó. Bố Cu Dần tha hồ mà sướng mê lên tề”.

Sáng hôm sau Lâm xin nghỉ một buổi học để đi tìm gọi anh Dần. Anh đã dặn nếu cần thì tìm anh ở đâu.

Anh Dần lo sắp xếp thuê người chở củi về nhà Lâm một mình đạp xe về trước. Đến thị trấn Cầu Giát còn mấy đồng bạc để dành Lâm ghé cửa hàng hợp tác xã năn nỉ xin mua hộp sữa bò. Mua được hộp sữa Lâm mừng qúa định ghé vào cửa hàng ăn uống định thưởng cho mình cốc xi rô. Mới đến cửa Lâm đã khựng lại. Thầy Quế và cô Nụ đang ngồi ăn phở và uống xi rô với nhau ở góc nhà. Khẩu súng trường thể thao TOZ8 dựng ngay mép bàn. Lâm lùi lại xấu hỗ như chính bản thân mình bị bắt qủa tang về tội ăn cắp trứng gà.

Đạp xe ra khỏi thị trấn cái xe bị nổ lốp phải dẫn bộ cả nửa cây số mới có chỗ sửa xe. Khi Lâm về tới cánh rừng phi lao gần Quỳnh Ngọc Lâm lại nhìn thấy thầy Quế chở cô Nụ vào rừng phi lao.

Từ đó Lâm không còn tin vào thầy Quế. Lâm biết chồng cô Nụ là một người rất hiền rất chậm lúc nào cũng vùi đầu vào sách vở với chiếc kính lúp cầm tay. Với Lâm ai có vài cuốn từ điển dày cộp và biết tra từ điển người đó là tri thức lớn. Chồng cô Nụ là nhà văn đã dịch ra biết bao cuốn sách tại sao Thầy Quế lại dẫn cô Nụ vào rừng phi lao cơ chứ. Đi bắn chim ư? Chẳng lẽ cô Nụ cũng thích đi bắn chim? Với tuổi Lâm Lâm không thể tin được chuyện đó.

Phong Điệp

Chương trình tặng báo "Kết nối những vòng tay"

Rất mong nhận được sự cộng tác của các anh chị.
Rất xin lỗi nếu thư này làm phiền cách anh chị

Chương trình tặng báo "Kết nối những vòng tay"

Mời các tổ chức cá nhân có lòng hảo tâm tham gia chương trình tặng báo "Kết nỗi những vòng tay" do báo Văn nghệ/ Văn nghệ Trẻ tổ chức.

Tính đến nay báo Văn nghệ đã có hơn 60 năm tồn tại và phát triển là diễn đàn uy tín của văn nghệ sĩ trong cả nước với lượng ấn bản lớn phát hành trên toàn quốc. Hai ấn phẩm chính của báo hiện nay là báo Văn nghệ và Văn nghệ Trẻ ra mắt vào thứ bẩy và chủ nhật hàng tuần phản ánh đa dạng các vấn đề văn học nghệ thuật và chính trị xã hội.

Với sự giúp đỡ của quý vị sẽ giúp cho nhiều bạn đọc ở vùng xa xôi hẻo lánh; những người lính Trường Sa; những học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn; người già cô đơn... được đọc báo miễn phí.

Tính hữu ích của chương trình:

1- Đây là cơ hội cho các tổ chức cá nhân làm từ thiện.

2- Đây là cơ hội các tổ chức doanh nghiệp quảng bá thương hiệu.

3- Đây là cơ hội giúp cho nhiều người có điều kiện được đọc báo góp phần nâng cao dân trí.

Cách thức đăng kí như sau:

Tên tổ chức/cá nhân tham gia: ..................

Địa chỉ............

Tên tổ chức/ cá nhân được tặng báo: ...................

Địa chỉ..................

Số tiền là: ...................................tương ứng với …… tờ báo

(Báo Văn nghệ: 5.900 đồng/ tờ Báo Văn nghệ Trẻ : 4.900 đồng/tờ)

Dùng để mua báo: ð Văn nghệ ð Văn nghệ Trẻ

Từ tháng : ..............

Cùng với việc đăng kí thông tin như trên và gửi về toà soạn báo Văn nghệ/ Văn nghệ Trẻ (17 Trần Quốc Toản Hà Nội) quý vị vui lòng chuyển tiền vào tài khoản của báo số 102010000018171 - Ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng Hà nội. Quý vị cũng có thể nộp tiền trực tiếp tại phòng tài vụ toà soạn báo. Ngay sau khi nhận được tiền Toà soạn sẽ gửi báo về đúng địa chỉ người nhận mà quý vị đã đăng kí . Phí tổn phát sinh từ việc chuyển báo sẽ do toà soạn đảm nhận. Số lượng báo dành cho chương trình "Kết nối những vòng tay" không hạn chế và được hưởng mức ưu đãi đặc biệt.

Danh sách các tổ chức cá nhân tham gia chương trình sẽ được cập nhật thường xuyên trên báo.

Thông tin chi tiết xin gọi về số điện thoại: 04 62915551 (trong giờ hành chính vào các ngày 2 đến thứ 4 hàng tuần).

Hoặc liên hệ qua email: ketnoinhungvongtay@gmail.com

Hãy nối rộng những vòng tay nối rộng tình yêu thương.
Tuần báo Văn nghệ
Trân trọng

Kết nối những vòng tay

--
Phong Điệp
http://phongdiep.net

hotinhtam

Gởi Kim Liên.

Chào buổi sáng Kim Liên!

Anh cám ơn em đã sớm vào đọc entry này của anh!
Khi máy bàn cài đặt xong windows anh sẽ vào thăm em ngay vì hiện thời laptop của anh viết comment cho ai gởi lên cũng không được. Có lẽ con bé học lớp 9 hay tò mò của anh đã làm cho nó mắc một lỗi gì đấy.

Kim Liên biết không. Tiểu thuyết này anh đang viết dang dở. "Đồng đội" là tên ban đầu của bản thảo chứ chưa phải là tên chính thức đâu. Nếu Kim Liên quý anh và thương anh thì mỗi lần anh post trích đoạn tiểu thuyết này lên em vào đọc và viết vài dòng để động viên anh hoàn thành nó nhen! Tốt hơn nữa thì em đọc rồi góp ý với anh xem nên đặt tên nó là gì. Khi xuất bản anh sẽ đưa em vào lời bạt cuốn sách cho vui và cho có tình nghĩa anh em. Anh là người viết anh cần có ý kiến đóng góp và động viên lắm em ạ. Hơn nữa anh cũng sợ rống vắng và cô đơn trong sáng tác lắm mà anh thì lại không có thời gian để có thể viết comme thăm hỏi hết mọi người đâu.

CHÚC EM MỘT NGÀY MỚI THẬT TỐT LÀNH!

hotinhtam

tiếp tr.Đồng đội chương 6

Buồn bực với thầy Quế Lâm bàn với bạn bè đặt tên cho bộ tứ là đảng tân thời. Tân thời là theo cái mới. Mà cái mới chính là việc bốn đứa có bốn cái xe đạp bốn cây đàn sau đó lại mua thêm được mỗi đứa một cây kèn armonica cùng gam đô trưởng. Ấy là chưa kể Sĩ Dũng còn có cây đàn gió 120 bát màu đỏ chói như lửa.

Đó là khoảng cuối năm 70 –71. Những năm Miền Bắc tạm vắng tiếng bom tiếng pháo bầy từ biển thổi vào; nhưng đời sống của dân tình thì vẫn còn khó khăn lắm. Và đó cũng là năm Lâm kéo đứa em trai đang học lớp 8 trường cấp 3 Quỳnh Lưu I về cùng trường Quỳnh Lưu II ở Quỳnh Ngọc. Có thêm đứa em Lâm chuyển từ nhà anh Cu Dần sang nhà ông Xá.

Ông Xá bị đấu là địa chủ thời Miền Bắc mới hòa bình. Nhà cửa ruộng đất bị tịch thu sạch. Cha ông cũng là địa chủ nhưng xấu số hơn bị đội cải cách xã xử treo cổ.

Ông Xá sống một mình trong ngôi nhà gạch lợp ngói cổ xanh mốc rêu phong thời gian. Tuổi chưa tới sáu mưới nhưng ông sống rất lặng lẽ. Buổi sáng ông thức dậy ra cây rơm rút vào một ôm nấu nước sôi hãm ấm tích chè xanh. Ông uống hai bát đầy ăn một cái bánh đa rồi vác cày ra đồng. Ông là thợ cày của hợp tác xã Quỳnh Ngọc. Buổi trưa không biết ông ở đâu ông ăn gì. Buổi chiều ông trở về lúc trời đã tối mịt nấu một nồi cháo trắng ăn với nước mắm hay với đường rồi đi ngủ. Ngôi nhà có ba gian. Anh em Lâm được tự ý sử dụng hai gian ngoài còn ông Xá chỉ ẩn trong cái buồng lúc nào cũng tối om của mình. Lâm chưa bao giờ được vào trong đó nên không biết bên trong có gì. Chỉ biết người ta đồn lão Xá còn giấu của giấu vàng. Lâm không tin. Một người không vợ không con có vàng thì việc gì lại sống thu mình như tu sĩ. Mà tính ông Xá cũng lạ đi đâu một bước cũng khóa trái cửa buồng bằng cái ống khóa chìa vôi còn thì mặc kệ anh em Lâm muốn làm gì thì làm.

Lâm học buổi sáng đứa em học buổi chiều. Buổi sáng đứa em cứ việc đóng cửa ngồi nhà mà học. Còn buổi chiều hầu như là thời gian tụ tập của bộ tứ. Đàn hát là chính. Còn học thì học tập thể. Bài toán nào khó thì xúm vào cùng giải. Tập làm văn thì Lâm phải gánh cho cả bọn. Nghĩa là Lâm làm trước rồi cả bọn chép ra; có thêm thắt cắt bỏ để hòng qua mắt giáo viên. Thơ truyện thì đọc to lên cùng nghe cùng bàn bạc. Có khi còn cãi nhau chí chóe. Vui nổ trời. Đôi khi ông Xá có nhà ông cũng ngồi nghe. Một lần nghe bộ tứ bàn về đạo đức của anh Biền khi anh Biền tự trọng không chen vào đám đông mua cân thịt bò về cho vợ con ông Xá xì một tiếng nói: « Nó tự trọng thì vợ con nó treo niêu rỗng bụng. Nỏ biết thương vợ con thì còn biết thương ai. Tay Tuy Kiền vậy mà được. Còn ra cái con người hơn ối thằng ra ». Lâm tròn mắt ngạc nhiên. Chẳng lẽ ông Xá vẫn còn máu địa chủ trong người. Nhưng mà cái ông già ốm quắt quéo héo hắt như tàu lá chuối khô lấy sức đâu mà đi cày nhỉ? Lại càng khó tin hơn khi nói ông ta đã từng là địa chủ. Địa chủ phải như Nghị Quế như Bá Kiến phải bản lĩnh cùng mình mới sai khiến được người khác chứ mới làm giàu được chứ.

Một buổi sáng được nghỉ học đột xuất Lâm trở về nhà trọ định lấy đàn đi tập văn nghệ. Thấy cổng rào chỉ khép lại chứ không cột bằng cọng dây thép như mọi ngày Lâm tưởng là thằng em đang học bài bèn đi thẳng vào nhà. Cánh cửa gỗ chỉ khép hờ. Kéo ra thấy cửa buồng ông Xá cũng mở. Thì ra ông Xá có nhà. Nghe tiếng kẹt cửa ông Xá bước ra hỏi: « Ai đó? ». Ông Xá mặc quần đùi phía sau trong bóng tối nhờ nhờ vẫn nhận ra một người đàn bà phốp pháp đang cài vội nút áo. Lâm hoảng sợ vội bước ra ngoài nhưng ông Xá nói như quát: « Vào đi! Tao xong rồi. Tao sắp lên mạn ngược vài ngày đây”. Người đàn bà cũng bước ra. Béo tốt và phương phi như bà chủ tiệm may trên Giát. Thấy Lâm đứng lại ông Xá dịu giọng: “Vợ bác đó. Trên mạn mới xuống”. Người đàn bà nhìn Lâm hỏi: “Thằng ni là thằng chơi đàn phải không? Giỏi hè! Nhưng đừng chơi bời tụ tập chết đó cháu!”.

Tưởng ông Xá đi vài ngày nhưng ông đi gần cả hai tuần. Tuần thứ hai Lâm được thầy Lượng hiệu trưởng mời lên làm việc tại văn phòng. Thầy nẹt cho Lâm một trận ra trò về tội dám đặt tên cho nhóm bạn là đảng tân thời. Rồi thầy cảnh cáo Lâm không được tụ tập bạn bè ở nhà ông Xá vì ông Xá có gốc địa chủ. Đoàn viên không được liên quan tới địa chủ.

Chuyện này bay ra tới Hà Nội. Ba Lâm chạy comangca vào tận nơi. Tất nhiên là Lâm bị ông xạc bị ông cấm chơi thân với Sĩ Dũng. Gia đình ta là gia đình cách mạng nó là con của một người bị Nhà nước xử lý bỏ trốn vào Nam lại đang được cha cố nuôi dưỡng. Dẫu nó tài đến đâu con cũng phải e dè không nên thường xuyên tụ tập. Rồi ông phân tích dằng dặc thế nào là tội tự ý thành lập đảng dù chỉ là đặt tên để chơi để cho vui. Và ông cũng tỏ ra không hài lòng khi biết hai con trai của ông đang học trọ trong nhà địa chủ. Ông nói ông sẽ đích thân đi Quỳnh Ngọc kiếm nhà khác cho anh em Lâm ở trọ. Nhưng ngay chiều hôm đó ông có điện gọi khẩn cấp phải về lại Hà Nội có công việc. Lâm vẫn ở lại tại nhà ông Xá cho đến hết năm lớp 10.

Nhưng vì tội tụ tập hát nhạc tiền chiến thành lập đảng tân thời Lâm bị xóa tên khỏi danh sách đi học nước ngoài Sĩ Dũng không được vào trường đại học Mỹ thuật.

Chơi đàn và kết bạn thành nhóm thời đó đôi khi cũng rắc rối.

kimlientb68

Tiểu thuyết ĐỒNG ĐỘI đọc thích quá!
chúc mừng anh có TT hay nhé!