vài mẩu chuyện về trà của hotinhtam



vài mẩu chuyện xoay quanh thú uống trà của Dzu





VÀI MẨU TRUYỆN VỀ TRÀ CỦA DZU- HTT

 

1.

Sáng nay tôi ngồi gõ bàn phím cứ thấy quay quắt thế nào bởi lẽ tôi tìm mãi mà không thấy trong nhà còn gói trà nào. Ba mẹ tôi uống trà từ ngày xửa ngày xưa nên tôi cũng ghiền trà từ nhỏ. Uống gì thì uống cũng không thứ nào thay thế được trà. Thiếu trà là tôi quay quắt không thể gõ bàn phím ra chữ nào được cả.

 

Thấy bà xã về tôi xuống giọng năn nỉ.

 

- Em à làm ơn mua cho anh ít trà được không? Nhà mình hết sạch trà rồi.

 

Nghe tôi nói bả tỏ ra ngạc nhiên.

 

- Anh không nhớ má có tặng hộp trà sao?

 

Ừ nhỉ. Cách đây hơn một tháng mẹ vợ có tặng tôi hộp trà vậy mà tôi lại quên béng đi mất.  Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát. Buồn ngủ gặp chiếu manh. Có thế mà cũng không nhớ.  Đúng là già rồi lẩm cẩm rồi lẩn thẩn rồi. Khổ thật.

 

Mà tôi đúng là lần thẩn. Tìm ra hộp trà đáng lẽ đi pha trà mà uống tôi lại lôi máy ra chụp ảnh hộp trà rồi lại ngồi gõ ra những dòng này. Gõ một lúc mỏi mắt tôi dừng lại để pha trà. Đúng lúc ấy cô em vợ tới rủ bà xã tôi đi mua cái bếp ga âm xuống nền bếp nghe nói hàng Italia giá 2 9 triệu. Bả đi rồi tôi lại ngồi gõ lạch cạch. Say mê tới quên cả bình trà đã pha. Trò đời nó thế khi tìm không ra trà thì quắt quay không thể gõ ra gì được đến khi yên tâm đã có trà lại nổi hứng gõ mê mãi tới quên cả trà.

 

Chừng bà xã về bả hỏi:

 

- Anh pha trà chưa? Ngon không? Đưa em uống thử miếng coi.

 

Ôi trời khô thân tôi rồi. Bả mà rót là bả rót một hơi đầy ly cối. Cái bình thủy pha trà của tôi nhỏ xíu kể như tôi tiêu tùng nước nhất. Hoảng quá tôi đành phải lên tiếng.

 

- Trà ngon bà đừng có mà uống như ngưu ẩm nhen! Lấy cái ly nhỏ thôi.

 

Nói xong tôi cũng lật đật rót ngay cho mình một tách. Quân tử phòng thân tiểu nhân phòng bị gậy. Với phích trà ngon thế này mình cứ phải tiểu nhân phòng bị gậy trước chứ tới lượt bả bả rót hết ra ly cối mình có mà móc bọc.

 

Trời ơi là thơm. Nước cứ xanh rờn lên khói bốc hương thơm ngào ngạt. Trà của mẹ vợ biếu con rễ chứ bỡn sao. Nam Mô con chúc tuổi đời đời cho má nhen! Ngon! Ngon tuyệt! Tào Tháo ngày xưa đã dễ gì có trà này mà uống. Ngon! Ngon tuyệt cú mèo là ngon! Hoan hô mẹ vợ! Tháng sau má nhớ tặng con hộp nữa nhen! Gì chứ trà thì… bi nhiêu con cũng nhận.

 

2.

Đang uống trà tự nhiên tôi cứ bắt nhớ con cháu vợ đang học bên Úc. Hồi nhỏ tôi gọi nó là tí nị nhỉn lên chút đỉnh tôi gọi nó là Ani. Ani mới năm tuổi đã nói với tôi.

 

- Con biết rồi. Chừng dượng ba chết con đốt xác dượng ba lấy tro bỏ vô hủ tưới cho dượng ba mỗi bữa cơm một ly rượu.

 

Thấy khoái trong bụng tôi nói:

 

- Phải tưới cả bằng nước trà nữa chứ. Sáng trà trưa rượu. Trà sáng rượu trưa nhớ nghen con.

 

Con bé cười phô cả hai hàm răng sún

 

Trong nhà Ani là con bé lí lắt nhưng rất tình cảm. Mỗi lần đến nhà tôi chơi bao giờ nó cũng phải tự tay pha một bình trà. Còn nhỏ nhưng nó pha trà dẻo tay như người lớn lại cũng biết nâng ly trà lên bằng cả hai tay rồi đưa lên mũi hít hà rồi nhấp từng ngụm rồi lại còn bắt chước người lớn khà một tiếng ra tuồng khoái chí lắm.

 

Nó sang Úc học từ năm bắt đầu vào cấp hai nay nó thi tốt nghiệp đại học tính ra cũng đã hơn chục năm trình độ uống trà của nó bây giờ phải kể vào hàng siêu đẳng. Nó chỉ uống trà búp chủng loại trà phải từ Ô Long trở lên. Đã thế nó lại còn mua cả cái nhiệt kế để kiểm tra độ nóng của nước và còn thỉnh từ Việt Nam qua Úc một bộ đồ trà Bát Tràng chánh hiệu. Nó là con một ba mẹ nó cưng như vàng.

 

Tôi nghe bà xã kể. Hồi chuẩn bị qua Úc có lần nó mò tới nhà tôi tự tay pha trà uống. Nó nói với dì ba nó. Hổng biết dượng ba thửa đâu ra thứ trà ngon vầy không biết. Uống chát quéo lưỡi mà chép miệng tới mười lần vẫn còn ngọt. Chắc là trà sái của chú Sơn ngoại giao quá. Sau này mỗi lần từ Úc về thăm nhà bao giờ nó cũng đem trà về và bao giờ cũng tặng cho tôi một gói. Nó nói với dì ba nó rằng trài sái của ngoại giao thua trà của con xa lắc dì ba nói dượng ba uống thử thì biết.

 

Ai chà chà Ani của Dzu. Mầy giỏi!

 

3.

Lại nhớ lúc tôi tham gia huấn luyện quân ở Đông Bắc để chuẩn bị đưa vào chiến trường B2 Nam Bộ. Lúc đó tiểu đội của tôi có tới mười lăm tân binh. Lúc học chiến thuật chiến đấu cấp tiểu đội tôi đưa hết anh em ra đồi chè của một bản dân tộc Dao Đỏ. Tối đầu tiên trở về sau giờ cơm tôi thấy thằng Tùng ngồi hí hoáy với cái soong quân dụng bên bếp lửa xào xào cái gì đó bốc mùi thơm như mùi chè xanh.

 

- Mầy làm gì đó Tùng?

- Em sao chè gần xong rồi.

- Chè đâu ra mà sao?

- Thì chôm của hợp tác xã chứ bới đâu ra hở anh.

 

Ây dza cái thằng ghiền trà này mầy lại vi phạm điều lệnh quân đội rồi. Không lấy cây kim sợi chỉ của dân nhưng búp trà của hợp tác xã ngoài đồi điều lệnh không nhắc đến thì lấy được chắc. Nhưng mà… mùi trà bốc lên thơm quá chịu hổng có nổi.

 

- Tiếc là không có nước mắm ngon anh à. Sao chè mà có chút nước mắm nhỉ phun vào nó sẽ thơm hơn mặn mà hơn. Nhà em truyền đời sao chè bán về dưới xuôi mà anh.

 

À phải rồi. Cái thằng Tùng cao lỏng khỏng này nó dân Thái Nguyên xứ chè Thái nức tiếng trời Nam . Đưa nó ra đồi chè cấm thế nào được nó không chôm búp chè của hợp tác xã. Nhưng thôi nó cũng sắp vào chiến trường rồi. Chết sống biết thế nào.

 

2.

Nhớ mùa đông năm ấy trời Thái Nguyên rét kinh khủng. Cứ hôm nào lạnh xuống dưới 80 C là được nghỉ.  Hôm ấy trời sương mù tới 8 giờ mà vẫn mịt mù người này cách người kia vài mét là không nhìn thấy nhau. Ngồi thu lu trên giường mãi cũng chán Trần Xuân Quảng rủ tôi.

 

- Đi tao với mày đi làm ấm trà cho khoái tỉ coi.

 

Đi làm ấm trà nghĩa là phải đội sương mù giá lạnh mà đi ra quán cây gạo của một bà già cách xa kí túc xá khoảng cây số. Thế nhưng với tuổi thanh niên háu đói cơm bữa nào cũng rặt canh “toàn quốc” đi làm ấm chè xem ra hấp dẫn lắm rét thế chứ rét hơn thế nữa cũng đi.

 

Trời sương giá nên bà cụ không mở quán mà đắp chiếu nằm trong cuộn trong ổ rơm gần cái bếp lửa dùng để sưởi. Nể chúng tôi là sinh viên dầm sương giá ra tới đây bà cụ mới ngồi dậy lụm cụm nấu nước pha trà. Tôi khó mà quên được bà cụ già cả lụm cụm sống độc thân ấy lắm. Sau này khi viết truyện ngắn “có một mùa đông” tôi đã đưa bà cụ ấy vào làm nhân vật chính cho câu chuyện. Bởi vì hôm ấy không hiểu thương cảm chúng tôi thế nào bà cụ chỉ lấy tiền gói thuốc Tam Thanh với bốn cái kẹo dồi lợn còn ấm trà thì bà biếu nói chúng mày sinh viên làm gì có tiền. Và rồi bà cụ ngồi hơ đôi bàn tay răn riu trên bếp lửa kể cho chúng tôi nghe rất nhiều về cuộc đời của bà. Chồng bà đánh trận Điện Biên không chết nhưng khi tham gia tiểu trừ thổ phỉ trên Tây Bắc lại vĩnh viễn nằm xuống ở cao nguyên núi đá Hà Giang. Anh con trai duy nhất đi biệt vào chiến trường Lào từ năm 1963 đến nay chẳng thấy có tin tức gì.Bà cụ cứ vừa kể vừa lấy tay chặm nước mắt.

 

Khi hỏi chuyện chúng tôi về quê quán cha mẹ anh em bà cụ nói:

 

- Chúng mày rồi lại ra chiến trường cả thôi. Cái chết cái sống khó lường lắm. Gắng học được chữ nào thì lo mà học. Có học mới có khôn ra được.

 

Quả nhiên sang năm 1972 có lệnh tổng động viên các trường đại học ra chiến trường cả tôi và Quảng đều đi lính cùng đơn vị với nhau. Trước ngày chia tay mỗi đứa về mỗi tiểu đoàn chuẩn bị lên đường vào Nam Quảng có rủ tôi đi thị trấn Mai Sưu “làm ấm chè”. Vẫn chỉ có ấm chè Thái mấy cái kẹo dồi lợn dồi chó bao thuốc là Tam Thanh. Với hai thằng hạ sĩ như vậy cũng là xa xỉ lắm.

 

Quảng nói với tôi.

 

- vào trong ấy rồi chẳng biết có sống mà về được không? Sinh ra ở cái nước quái quỷ gì mấy ngàn năm lịch sử chỉ có đánh nhau với đánh nhau. Mạng người chết bỏ như chó gà cả đám.

 

Vậy mà cả hai đứa đều sống nhăn răng ra với nhau. Sống bất chấp cả bom đạn và bệnh tật rình rập từng ngày.

 

Giữa tháng 10 năm 1980 mẹ tôi từ Hà Nội vào Sài Gòn lo đám cưới cho tôi với Huyền Trang. Mẹ đưa vào tới mấy ký chè Thái loại một vậy mà Quảng vẫn đem đến một ký chè Thái tặng tôi thay cho quà cưới. Hồi đó đám cưới con cháu gia đình cán bộ người ta không đi tiền mà chỉ tặng quà hoặc tặng cái thiệp chúc hạnh phúc trăm năm. Cả nhà tôi lúc đó gần như đều sống ở Hà Nội nên Quảng là người ra tay lo trang trí đám cưới cho tôi mượn cassette mượn amply và micro cho tôi lại còn ạch đụi khuân tới hai cái quạt máy. Chúng tôi học ở Cần Thơ lại tổ chức đám cưới ở sài Gòn vào mùa hè nên bạn bè rất ít Quảng phải rủ thêm bạn bè đến cho đông. Suốt mấy ngày chuẩn bị ngày nào Quảng cũng có mặt ăn ngủ ngay tại nhà tôi và… tất nhiên là… chúng tôi vẫn quây quần với nhau bên ấm chè Thái và thuốc lá Điện Biên(mẹ tôi đem vào cả hai chục tút).

 

Thế đấy. Trà với tôi nó như là một chất kết dính có lẽ còn chung thủy với tôi đến suốt cuộc đời này.

 

Dzu- htt

 

 




 

mongthuy và ca khúc mưa mùa hè

 

hotinhtam

Gởi Cát Biển

Chào Cát Biển!

Hôm qua anh phải đi Cao Lãnh thăm cháu ngoại gấp quá nên không thể trả lời em được. Thông cảm nhen!
Thú thật anh chưa bao giờ được thưởng thức trà Ấm Vàng của Hải Phòng cả nhưng có lần khi ngồi nhâm nhi vài ly rượu với nhà văn Mã A Lềnh ở chợ Sắt khi dừng lại thăm TP Hải Phòng- trên đường đi Đồ Sơn- anh cũng đã được thưởng thức một ấm trà rất ngon chẳng biết có phải là trà Ấm Vàng không nữa.

Chúc Cát Biển một ngày thiệt vui nhen@!

catbien

Ngày mới

Sớm mai thăm anh đọc bài viết về TRÀ thật thú vị. Tháng 8 này anh ra Bắc họp em sẽ lên Hà Nội thăm anh và biếu anh Trà Ấm vàng đặc sản Hải Phòng nhé!
Chúc anh ngày mới nhiều niềm vui!

hotinhtam

Dzu và thú uống trà

Nhiều người vẫn nói sao mà Dzu giỏi thức đêm vậy không biết. Sự thực sức đâu mà thức cả đêm tất cả cũng là nhờ Dzu hay uống trà vào buổi tối để trà giúp kích thích sự tỉnh táo. Bạn cứ uống trà vào đầu buổi tối đi bạn sẽ rất khó ngủ vì trà có tác dụng kích thích lên thần kinh khiến đầu óc mình linh lợi hẳn ra. Tất nhiên sau vài đêm ròng thức trắng Dzu có khả năng ngủ bù rất tốt. Nghĩa là ngồi ở đâu mà không có việc gì phải làm là Dzu có thể chìm ngay vào giấc ngủ sâu cho dù xung quanh có ồn thế nào. Hoặc Dzu có thể bỏ hẳn ra cả một buổi chiều ngủ vùi tới mức chẳng cần biết trời nóng nực đến cỡ nào hay mưa gió rét mướt cỡ nào.
Hồi chiến tranh Dzu còn học được cách vừa đi bộ trong hàng quân vừa ngủ. Hễ bị lạc đội hình vài mét thấy mất hơi người phía trước là Dzu tỉnh ngay. Lúc bơi xuống cũng vậy. Mỗi chiếc xuống hai người cứ thay nhau người này ngủ thì người kia thức. Nói là ngủ nhưng hai tay vẫn cầm dầm bơi như thường. Chiến tranh nó dạy cho cả.
Tiểu đoàn Dzu là tiểu đoàn rất lì đòn trong chống càn mà chống càn thì rất hay buồn ngủ nên lính tráng ai cũng có cả bình toong nước trà đặc. Chống càn mà ngủ lính nó tràn vào thì chết như chơi thế cho nên nước trà là quan trọng lắm.

http://lh3.ggpht.com/_vXeTSUG0CtA/TBN5kX1OoCI/AAAAAAAAB4o/u45F8k8cVWU/DSC06271.JPG

http://lh3.ggpht.com/_vXeTSUG0CtA/TBN5khWdDAI/AAAAAAAAB4s/6K2CvOLiTBY/DSC06272.JPG

http://lh5.ggpht.com/_vXeTSUG0CtA/TBN5kkf72_I/AAAAAAAAB4w/CGiCInE8og0/DSC06273.JPG

http://lh6.ggpht.com/_vXeTSUG0CtA/TBN5k6TbwII/AAAAAAAAB40/U9nt-tyxxxw/DSC06274.JPG

hotinhtam

Dzu và thú uống trà

Trong entry Dzu viết đôi lúc giọng hơi hài hước chút đỉnh chứ sự thật hai cụ thân của Dzu và nhạc mẫu rất hay cho Dzu trà và đây cũng là nguồn trà chủ yếu của Dzu chỉ khi thắt ngặt lắm Dzu mới phải năn nỉ bà xã. Mỗi lần Dzu về Sài Gòn thế nào hai cụ thân cũng cho Dzu ít trà. Còn mẹ vợ thì hễ cứ ai biếu trà là bà cụ lai chiu chắt đem cho Dzu. Bên nhà chỉ có hai người già trà uống cả tháng không hết một gói nhỏ. Vợ chồng em vợ thì lại đi làm cả ngày mấy khi uống trà ở nhà đâu.

http://lh5.ggpht.com/_vXeTSUG0CtA/TBN4Wl27buI/AAAAAAAAB4Y/dPG3TtN7Dmo/DSC06268.JPG

đây là hộp trà của nhạc mẫu cho Dzu

http://lh3.ggpht.com/_vXeTSUG0CtA/TBN4W6ski6I/AAAAAAAAB4c/tcwnpTTZaX8/DSC06269.JPG

trà này búp gần giống như búp trà Ô Long mà Dzu đã giới thiệu ở trên

http://lh4.ggpht.com/_vXeTSUG0CtA/TBN4W881rII/AAAAAAAAB4g/Yh3w23ka0Vk/DSC06270.JPG