CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT.a

Cuộc Đời Đức Phật (01)

 

Cuộc Đời Đức Phật (02)

Cuộc Đời Đức Phật (03)

hotinhtam

tiếp theo

Ý nghĩa của sự thị hiện

Bắt nguồn một tôn giáo nào vị giáo chủ bao giờ cũng là một tấm gương sáng cho tín đồ soi chung để tiến bước. Nhưng trong các vị giáo chủ của các tôn giáo hiện có trên thế giới này không có một vị nào đầy đủ ý nghĩa cao đẹp một đời sống sâu xa bằng đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Mỗi hành động mỗi cử chỉ mỗi lời nói cho đến mỗi im lặng của Ngài đều là những bài học quý báu cho chúng ta. Nếu chúng ta học giáo lý của Ngài mà không hiểu rõ đời sống của Ngài thì sự học hỏi của chúng ta còn phiến diện thiếu sót. Đời Ngài chính là những biểu hiện giáo lý của Ngài. Ngài nói và Ngài thực hành ngay những lời Ngài đã nói. Đời Ngài là một bằng chứng hiển nhiên để người đời nhận thấy rằng giáo lý của Ngài có thể thực hiện được chứ không phải là những lời nói suông những không tưởng những lâu đài xây dựng trên mây trên khói. Vậy cho nên khi chúng ta học hỏi đời Ngài chúng ta không nên có cái quan niệm học cho biết để thỏa mãn tánh hiếu kỳ mà chúng ta cần phải tìm hiểu ý nghĩa thâm túy của đời sống ấy để đem áp dụng cho đời sống của chúng ta. Làm được như thế mới khỏi phụ ý nguyện lớn lao của đức Phật khi giáng sinh xuống cõi Ta Bà này và đã cam chịu bao nỗi đau khổ gian lao trong kiếp sống như mỗi người chúng ta. Thường trong danh từ nhà Phật khi nói đến sự hiện diện của đức Phật Thích Ca trong cõi đời này người ta thường dùng chữ đản sinh (nghĩa là một sự ra đời vui vẻ làm hân hoan xán lạn cho cõi đời); hay thị hiện (nghĩa là hiện ra bằng xương bằng thịt cho con mắt trần của chúng ta thấy được); hay giáng sinh (nghĩa là từ một chỗ cao mà xuống một chỗ thấp để sinh ra). Ba chữ ấy đều có 3 ý nghĩa khác nhau: Chữ đản sinh dùng để ca tụng một bậc tôn quí ra đời; chữ thị hiện hàm cái ý Phật bao giời cũng có cả nhưng vì mắt người không thấy được phải hiện rõ ràng ra mới thấy; chữ giáng sinh hàm cái ý đức Phật ở một cảnh giới cao hơn tốt đẹp hơn mà hạ xuống cảnh giới phàm trần này. Ba chữ ấy mặc dù khác nhau nhưng đều có thể dùng để chỉ sự ra đời của đức Phật. Trái lại khi một nguời phàm ra đời thì gọi là "đầu thai". Đầu thai có nghĩa là bị nghiệp báo hoặc thiện hay ác bắt buộc phải luân hồi để chịu quả báo lành hay dữ. Còn giáng sinh hay thị hiện thì không hàm cái nghĩa bị nghiệp nhân câu thúc mà do nơi lòng từ bi muốn lợi ích cho chúng sinh nên tự nguyện ứng thân xuất hiện ra đời trong một thời gian để cứu độ chúng sinh; xong xuôi thì thâu thần tịch diệt tự tại vô ngại ra ngoài sống chết.

hotinhtam

tiếp theo

Giá trị tư liệu về đản sinh

Thời gian gần đây nhiều học giả đã nỗ lực xây dựng lại cuộc đời Đức Phật lịch sử – bậc Thánh Triết của dòng họ Thích-ca (‘Saakyamuni). Tác phẩm "Cuộc Đời Đức Phật qua Truyền Thuyết và Lịch Sử" (The Life of the Buddha as Legend and History) của ông E. J. Thomas (1927) là quyển cổ điển nhất. Một tác phẩm uyên bác quý báu thứ hai là của Tỳ-kheo ~Nyaa.namoli. "Cuộc Đời Đức Phật" (The Life of the Buddha) (1972). Tác phẩm này bao gồm những bản dịch chọn lọc từ kinh điển Paali và các bản sớ giải đã được sắp xếp và xác định tác giả chẳng hạn như được những vị đệ tử trực tiếp của Đức Phật như Ngài A-nan-đa (AAnanda) Ưu-ba-ly (Upaali) trùng tuyên hoặc các bản giải thích của những nhà sớ giải truyền thống. Khi làm việc với các tham khảo liên hệ đến các sự kiện lịch sử quý hiếm này một cách khác của việc xây dựng lại cuộc đời Đức Phật là phải chú ý nghiêm túc đến những tư tưởng triết học mà Ngài đã trình bày và làm thế nào để phản ánh những triết lý ấy qua đời sống và hạnh nguyện của Ngài. Một nỗ lực như vậy đã được thể hiện qua tác phẩm Con Đường Sĩ-Đạt-Ta (Siddhatha): Cuộc Đời Đức Phật (The Way of Siddhartha: A Life of the Buddha) xuất bản năm 1982. Vì tác phẩm này[1] trình bày đại cương về những lời dạy triết học của Đức Phật tưởng cũng nên có một chương giới thiệu nhằm tóm tắt toàn bộ nội dung của tác phẩm vừa nêu "Bụt" (Buddha) nghĩa là "Người Giác Ngộ" là thuật ngữ được biết khi Bồ-tát Sĩ-đạt-ta chứng thành Phật quả. Cha của Thái tử là vua Tịnh-phạn (Suddhodana) trị vì một vương quốc nhỏ thuộc dòng họ Thích-ca (‘Saakyan) dưới chân Hy-mã-lạp sơn (Himalayas). Thủ đô của nước là Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu). Mẹ của Thái tử là Hoàng hậu Ma-da (Maayaa) Bà đã băng hà sau khi hạ sinh Thái tử. Em gái của hoàng hậu là Ma-ha-ba-xà-ba-đề (Pajaapatii Gotamii) nuôi dưỡng Ngài suốt thời thơ ấu. Được trưởng thành trong môi trường tiện nghi hưởng thụ những đặc ân mà biết bao những đứa trẻ khác không có được trong bối cảnh xã hội đầy dẫy bất công giai cấp. Sĩ-đạt-ta được giáo dục chu đáo trong chương trình đào tạo theo lối truyền thống võ thuật kiếm cung và những lãnh vực nghiên cứu khác thích ứng cho một vị vua tương lai. Tuy nhiên ngay từ buổi đầu Thái tử dường như đã tỏ ra không phù hợp với vua cha- người muốn thái tử sẽ trở thành vị nối ngôi vua hơn là một triết gia hay một nhà lãnh đạo tôn giáo – người phải đối đầu với tư tưởng và các giá trị truyền thống. Những mâu thuẫn này được biểu hiện trong một số huyền thoại ngay từ buổi đầu của cuộc đời Ngài đặc biệt là tiên đoán của tiên tri A-tư-đà (Asita Kaaladevala) và những ngăn cản của vua cha không cho Ngài chứng kiến những cảnh sinh già bệnh chết. Cách giáo dục truyền thống bao gồm nghiên cứu các kinh điển Vệ-đà (Veda) cũng như sáu môn khoa học phụ: ngữ âm học (‘sik.saa) tế lễ (kalpa) ngữ pháp (vyaakara.na) từ nguyên học (nirukti) thi pháp học (chandas) và thiên văn học (jyoti.s) . Như chúng ta thấy trong kinh cách nhận định sáng suốt về kinh điển Vệ- đà của Thái tử kiến thức về ý nghĩa và quá trình phát triển tế lễ đánh giá phê bình về cơ cấu chính trị xã hội đương thời lối phân tích chi tiết những quy ước đạo đức những tư tưởng sáng ngời về bản chất và chức năng của ngôn ngữ tất cả những điều này được xem là những đặc tính của ngài vốn không thể là kết quả đơn thuần của đốn ngộ lại càng không phải là toàn trí mà Đức Phật đã từng phủ bác. Thật ra sự giác ngộ của Ngài có thể được xem như là sự kết hợp của phản ứng chín chắn đối với sở học truyền thống mà ngài tiếp nhận khi còn là Thái tử với sự hiểu biết thâm nhập trọn vẹn về nhân sinh và bản chất của hiện hữu.

hotinhtam

tiếp theo

c) Các sử gia Trung Hoa cũng hỗ trợ một phần qua sách "Ðiểm Sử Ký" của Quảng Châu sách này trình bày rõ mỗi điểm tượng trưng một năm sau thời đức Phật diệt độ. Xuống đến năm 489 CN sách này nêu ra 975 điểm tức là đặt thời đức Phật diệt độ vào năm 486 và đản sinh vào năm 566 trước CN. Dầu tính cách chính xác trong sử sách của người Trung Hoa đáng tin cậy đến đâu chăng nữa thì cũng không phải là không có sai lầm nhất là vì đạo Phật đến Trung Quốc khá trễ và các sử gia Trung Hoa đã không khởi công viết sử ký ngay khi bậc Ðạo Sư Ấn Ðộ tịch diệt.

d) Ta cũng có thể xem xét truyền thống Kỳ-na giáo. Vị tổ sáng lập đạo này là Jina (Thắng giả) hay Mahàvira (Ðại Hùng) người đồng thời với đức Phật sống đến bảy mươi hai tuổi và được Kinh Ðiển Phật giáo nhắc đến qua danh hiệu Nigantha Nàtaputta( Ni-kiền-đà Nhã-đề-tử).

Các học giả Âu Châu thường ghi đạo sư Mahàvira mất năm 476 trước CN theo lời tuyên bố của Hema Candra một tu sĩ Kỳ-na (thế kỷ 12 sau CN) rằng sự kiện vua Candragupta Maurya lên ngôi (năm 321 trước CN) xảy ra cách 155 năm sau khi tổ sư Mahàvira tịch diệt (Nirvàna). Nhưng các học giả đạo Kỳ-na lại tranh luận sự chính xác của con số này và nêu ra điểm sai lầm đã được thừa nhận của Hema Candra và nhiều đoạn trong kinh điển Kỳ-na đã đặt con số 215 năm giữa cuộc chinh phục vương quốc Avanti của vua Candragupta (312 trước CN) và sự từ trần của tổ sư Mahàvira. Cách tính này sẽ đặt sự kiện tổ Mahàvira tịch vào năm 527 trước CN. Năm này được xem là khởi điểm của biên niên sử đạo Kỳ-na (sử này chỉ mới được khai sinh sau CN) .

hotinhtam

tiếp theo

Về niên đại

Ða số sử gia Âu châu nghiên cứu Ấn Ðộ cho rằng năm 563 trước CN là năm sinh của đức Phật và cũng là niên đại sớm nhất được xác nhận. Niên đại ấy được tính toán cách nào và khả năng sai lạc lớn đến mức nào?

a) Vì sử sách cổ Ấn Ðộ chỉ ghi các khoảng cách giữa các sự kiện mà không ghi niên đại của các sự kiện ấy như các sử sách về sau cho nên muốn xác định niên đại trong sử Ấn Ðộ cần phải thỉnh cầu đến các sử gia Hy lạp. Các quan hệ Ấn - Hy phát triển là do kết quả chiến dịch Ấn Ðộ của Ðại Ðế Alexander (327 trước CN). Vào khoảng năm 303 trước CN Hoàng đế Ấn Ðộ Candragupta Maurya (hay Candagutta Moriya triều Khổng Tước) đạt được một thỏa hiệp về lãnh thổ và mở màn quan hệ ngoại giao với vị cựu đại tướng của vua Alexander là Seleukos Nikator hiện thời cai trị thành Babylonia. Qua các báo cáo của sứ thần Hy lạp là Megasthenes được bổ nhiệm đến thủ đô Pàtaliputta (Patna ngày nay) vua Candragupta dần dần được các sử gia Hy Lạp biết rõ qua danh hiệu Sandrokottos trong tiếng Hy lạp và nhờ các sử gia này chúng ta có thể tính niên đại ngài lên ngôi vào năm 321 trước CN.Niên đại này còn cho chúng ta xác định các niên đại của chuỗi sự kiện liên tục được liệt kê trong sách sử ký tiếng Singhala là Dìpavamsa (Ðảo Sử) và Mahavamsa (Ðại Sử) khoảng thế kỷ thứ tư đến thứ sáu CN. Theo các sách này (Dv5.100; Mhv 5.18) vua Candragupta trị vì hai mươi bốn năm (đến 297) hoàng nam kế vị ngài là Bindusàra (Tần-đầu-sa-la) trị vì hai mươi tám năm (đến 269) tiếp đó là khoảng bốn năm trước khi Asoka con vua Bindusàra lên ngôi bằng cách tiêu diệt tất cả hoàng gia huynh đệ và tự làm lễ quán đảnh phong vương (Dv 6.21; Mhv. 5.22). Như vậy biến cố này có lẽ đã xảy ra vào năm 265 trước CN.Ta có thể nhìn lui về ngày đức Phật đản sinh dựa vào lời xác nhận trong cả hai sách sử ký này (Dv 6.1; Mhv 5.21) rằng vua Asoka lên ngôi hai trăm mười tám (218) năm sau khi đức Phật diệt độ (Bát Niết-bàn). Sự kiện này do vậy được ghi vào năm 483 trước CN. Và vì Bậc Ðạo Sư sống đến tám mươi tuổi năm đản sinh của ngài nhằm vào năm 563 trước CN.Mặc dù con số hai trăm mười tám năm giữa thời đức Phật diệt độ và vua Asoka tức vị được xem là đáng tin cậy cách tính toán này cũng có nhiều nhược điểm. Về một phương diện các năm trị vì của vua chúa thường được làm tròn cho chẵn số và một phương diện khác ta không nên bỏ qua sự kiện là trong sách Purànas (Chuyện Cổ Nhân) cho rằng vua Bindusàra chỉ trị vì khoảng hai mươi lăm năm. Như vậy cách tính toán dựa trên các sử ký cần được kiểm tra lại từ nhiều nguồn khác nữa.

b) -Một nguồn thông tin khác do các sắc dụ của hoàng đế Asoka cung cấp các sắc dụ này được hoàng đế Devànampiya Piyadasi (Thiên Ái Thiện Kiến tức A-dục) truyền khắc lên đá và đặc biệt truyền dựng thạch trụ khắp đế quốc vĩ đại của ngài. Sắc dụ trên thạch trụ số XIII ghi ngày chinh phục đẫm máu nước Kalinga (Orissa) của vua Asoka tám năm sau khi ngài đăng quang và trụ này có lẽ được xây dựng mười hai năm sau biến cố ấy nêu danh tánh năm vị vua không phải người Ấn Ðộ mà hoàng đế Asoka đã tiếp kiến đó là: Antiochus II của nước Syria Ptolemy II của Ai Cập Antigonus của Macedonia Magas của Cyrene và Alexander của Epirus. Niên đại của các vua này đều được biết rõ và năm gần nhất các vua này vẫn còn sống là 258 như vậy đó cũng có thể là năm gần nhất của sắc dụ này. Tính lùi lại mười hai năm sau ngày vua Asoka lên ngôi cọng thêm 218 năm được nêu trong các sử ký ta đạt con số 488 trước CN dành cho năm đức Phật tịch diệt và năm 568 dành cho năm đản sinh của đức Phật.Một điểm sai lạc có thể thấy ở đây nằm trong khoảng thời gian giữa năm đăng quang của hoàng đế Asoka và năm ban hành sắc dụ khoảng ấy có thể hơi ít hơn mười hai năm.

hotinhtam

ĐẢN SINH CỦA ĐỨC PHẬT

st

http://www.vuonlam.us/A_PhatGiao/Hinh/DucPhatThichCa.jpg

ĐẢN SINH CỦA ĐỨC PHẬT
Kiêm Đạt

Dẫn nhập

Đức Phật ra đời cách đây đã hơn hai thiên niên kỷ. Thời ấy phương tiện ghi chép lịch sử chưa được như ngày nay chủ yếu là truyền miệng từ đời này sang đời khác nên việc lưu lại lịch sử Đức Phật rất khó chính xác. Tuy nhiên không vì thế mà chúng ta không khẳng định được những nét cơ bản hợp lý trong lịch sử cuộc đời Ngài. Những cứ liệu lịch sử do các nhà khoa học chứng minh thì đã rõ nhưng những truyền thuyết dân gian cũng không thể chối bỏ bởi truyền thuyết cũng phần nào dựa trên những yếu tố cơ bản có thật để xây dựng. Những tình tiết dù không có thật nhưng cũng nói lên phản ánh được tinh thần của vấn đề. Con người không thể bảo rằng cái gì chưa chứng minh được thì điều ấy là không có thật. Ngày nay khi mà khoa học chưa thể tìm ra một cách đầy đủ về cuộc đời Ngài thì truyền thuyết là những nét chấm phá để chúng ta có thể dựa vào đó mà hoàn thiện hình ảnh một con người vĩ đại đã mang lại cho nhân loại sự độc đáo về tư duy về triết học; mang lại cho những người quan tâm đến đời sống tâm linh một con đường an lạc giải thoát siêu việt và thiết thực nhất là mang lại cho xã hội một nền tảng đạo đức cao cả về lòng từ bi vị tha vô lượng. Có khá nhiều sử sách ghi chép khác nhau về năm sinh năm xuất gia của Đức Phật. Điều này có nhiều nguyên do (do quan niệm do cách suy luận do dựa vào nhiều cứ liệu lịch sử khác nhau...) nhưng nguyên do cơ bản nhất có lẽ là xuất phát từ đặc điểm tư duy của người Ấn Độ. Người Ấn xưa không đặt nặng vấn đề thời gian chính vì vậy mà lịch sử Ấn Độ xưa thường không chú trọng việc ghi chính xác ngày tháng. “... Người Ấn chú ý đến những điều giáo huấn nghi thức hơn là tính chính xác của lịch sử” (Nguyễn Tấn Đắc - Văn hóa Ấn Độ). Tuy nhiên dù chưa xác định chính xác niên đại thì năm sinh của Đức Phật - theo một số sách sử nghiên cứu được nhiều ý kiến đồng tình ghi lại - cũng chỉ dao động trong vòng khoảng 100 năm. Do vậy chúng ta có thể chấp nhận được vì điều này không ảnh hưởng đến hệ thống tư tưởng giáo lý của Ngài bởi trong vòng một thế kỷ hệ tư tưởng con người không có sự khác biệt nhiều.

hotinhtam

ảnh Đức Phật

st

http://www.vuonlam.us/A_PhatGiao/HinhAnh/ChuPhat&BoTat/DucPhatThichCaNam41Tuoi_Buddha.jpg

http://www.vuonlam.us/A_PhatGiao/HinhAnh/ChuPhat&BoTat/DucPhatThichCaNam41Tuoi_Buddha.jpg

Trên Giữa : THÍCH CA MÂU NI PHẬT.

Hai hàng chữ hai bên :
NHỨT THIẾT HỮU VI PHÁP NHƯ MỘNG HUYỄN BÀO ẢNH
NHƯ LỘ DIỆC NHƯ ĐIỆN ƯNG TÁC NHƯ THỊ QUÁN.

Dưới Giữa : Bức ảnh tượng này là Đức Phật Thích Ca năm Ngài 41 tuổi
do Đệ Tử của Ngài là Tôn Giả Phú Lâu Na chính tay vẽ lấy. Nguyên Bản
của ảnh tượng này lưu giữ tại Viện Bảo Tàng Anh Quốc và được xem
như là Quốc Bảo.

hotinhtam

ảnh Đức Phật và thư pháp

ảnh st

http://honchuviet.com/images/product/thuphap%20phat%20thich%20ca5.jpg

http://honchuviet.com/images/product/thu%20phap%20datma4.jpg

http://honchuviet.com/images/product/thuphap%20tamhieu9.jpg

http://honchuviet.com/images/product/thuphap%20nhankhongnhannho8.jpg

http://honchuviet.com/images/product/thu%20phap%20madaothanhcongnho3.jpg