50 năm Văn học Trà Vinh- hotinhtam

Nhân đọc phần thơ của “50 năm văn học Trà Vinh” tôi muốn nói thêm một kỷ niệm với Phạm Tường Bá. Đó là lần tôi cùng anh đi mừng thọ nhà thơ Truy Phong 80 tuổi tại cù lao Quới Thiện. Ngày hôm sau anh ở lại với tôi một buổi sáng kể cho tôi nghe chuyện nuôi vịt chạy đồng chuyện bạn bè văn nghệ Trà Vinh thời nay và thời chiếm đóng. Dài theo lời kể của anh tôi càng nghe càng thấy anh em văn nghệ Trà Vinh sao mà dễ thương làm vậy. Vượt lên số phận và hoàn cảnh bằng tâm lực và trí lực của mình họ đã làm nên gương mặt văn học Trà Vinh dày dặn tính cách của một vùng đất từng có tên là phủ Lạc Hóa.

Mời các bạn nghe bài viết của Hồ Tĩnh Tâm trước khi đọc bài viết

 

Bác Hồ với thiếu nhi

 

50 NĂM VĂN HỌC TRÀ VINH- NỬA THẾ KỶ TÌNH ĐỜI

Hồ Tĩnh Tâm

 

Cuối năm 2003 một tin vui đến với bạn đọc và bạn văn khu vực đồng bằng châu thổ sông Cửu Long và cả nước đó là công trình “50 năm văn học Trà Vinh” đã ra mắt với tầm vóc dồ sộ cả về bề dày tác phẩm và bề dày về sự có mặt của các tác giả trong và ngoài tỉnh phản ánh sắc nét tính cách bản lĩnh con người và hiện thực cuộc sống nóng hổi của Trà Vinh anh hùng trong công cuộc kháng chiến và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

 

1.

Riêng phần thơ đã tập trung được 112 bài với sự có mặt của 55 tác giả. Phần văn có 57 truyện ký và tiểu thuyết của 38 tác giả. Là người hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật chúng tôi đánh giá rất cao công trình đồ sộ này của nhóm tác giả biên soạn do nhà thơ Lê Tân làm trưởng ban.

Đúng như nhà thơ Nguyễn Bá đã viết:

 

Tôi đã đến đất Trà Vinh màu mỡ

Với những xóm làng phum sóc yêu thương

Những hột cát liền nhau thành xứ sở

Thành những ven sông bến chợ sân trường

 

Bản thân tôi đã gắn bó với Trà Vinh từ nhiều năm nay tôi yêu tiếng trống sadam vỗ điệu lâm thôn từng hồi dồn dập đến mê đắm. Bởi vậy tôi hiểu tình cảm mà nhà thơ Nguyễn Bá dành cho Trà Vinh nồng nhiệt đến ngần nào.

 

Trà Vinh ơi!

Tình phum sóc muôn đời bền chặt

Điệu lâm thôn rộn rịp suốt đêm dài

Tiếng trống sadam từng hồi dồn dập

Như nhịp tim rực lửa hăng say

 

Nói tới tính cách và bản lĩnh con người Trà Vinh không thể không nói tới soạn giả Viễn Châu- Huỳnh Trí Bá. 19 tuổi người nghệ sĩ ưu tú này đã dấn bước đường đời xông vào kinh đô văn học nghệ thuật lớn của cả nước lập nghiệp giữa thành phố Sài Gòn chỉ với mấy đồng bạc Đông Dương. Một khối óc hai bàn tay với một cây đàn vậy mà ông đã trụ vững giữa thành đô hoa lệ từng bước khẳng định tài năng của mình. Và ngày nay ông được cả nước tôn vinh là một tài năng lớn nghệ sĩ ưu tú trong lĩnh vực sân khấu cải lương. Dù sống xa quê nhưng tấm lòng người nghệ sĩ vẫn hướng về quê mẹ cháy bừng trong từng câu chữ.

 

Bồi hồi khi nhớ đến Trà Vinh

Nước mặn đồng chua mấy nghĩa tình

Tháp cổ Đôn Châu màu nắng nhạt

Trường xưa Đa Lộc sắc rêu in

 

Nói tới Trà Vinh phải nói tới những giồng cát động cát những cánh rừng dầu những cửa biển mở ra tương lai bát ngát sóng lừng như hơi thở của lồng ngực trẻ. Nhà thơ Lê Chí gởi yêu thương tới Trường Long Hòa trong một bài thơ dậy sóng. Mới đọc đã chạm vào sức nóng của tình cảm mảnh lệt.

 

Nơi đây một dải sóng cồn

Lưng dựa vào nhau mặt trông ra biển

Sóng theo sóng vỗ hoài lưu luyến

Đàn nhạc rộn ràng quên buổi hoàng hôn

 

Yêu thương mà nhà thơ Lê Chí gởi về Trà Vinh yêu dấu đâu chỉ dành riêng cho Trường Long Hòa sắt thép anh hùng tình yêu ấy trước hết và trên hết là hướng tới con người hướng tới kỷ niệm một thời không bao giờ quên được. Nó kết tinh và lắng lại trong câu chữ xúc động lòng người tới tận cùng máu thịt.

 

Ôi mảnh đất kết thịt da từ lòng biển

Con nước lớn ròng chở nặng nhớ thương

Cồn Ông Cồn Tàu Mù U Giồng Giếng…

Thuở ra đời đã nghe sóng đại dương

 

Về quê biển tất nhiên là gặp biển. Nhưng xao xuyến đến chạnh lòng là gặp được màu tím một loài hoa mọc lan dài qua thời gian lan dài qua cõi tâm linh con người. Nhà thơ Lê Tân gởi về Duyên Hải yêu thương một bài thơ ngắn viết về hoa muống biển nở tím dài tháng năm mùa thủy chung mùa son sắt đậm đà bền lâu cùng mãi mãi.

 

Đã đi cuối đất cùng trời

Hoa lan hoa cúc… rạng ngời sắc hương

Mà sao cứ nhớ cứ thương

Màu hoa muống biển suốt đường tôi qua

Cái màu tim tím trời xa…

Cho thương cho nhớ đậm đà lòng ai

 

Tôi đọc thơ Lê Tân đã khá lâu và cũng đọc khá nhiều. Thơ anh không ồn ào cũng không làm dáng. Đó là chữ nghĩa tuôn ra theo dòng chảy của tâm hồn anh những gì mà anh cảm thức từ cuộc sống từ những trăn trở rất thực về tình đời bề bộn những cưu mang lo toan khổ đau và hạnh phúc.

 

Ơi quê hương- thân phận những cánh cò

Lại bao ngày nắng gió buồn lo…

Lúa chít khăn tang chạy vạy từng lon gạo

Mùng khói ổ rơm… phum làng nhốn nháo

Cái nóng về uống cạn những dòng kinh

 

Có người nói thơ là dòng chảy của cảm xúc. Cảm xúc trong thơ Lê Tân hồn hậu và thật thà như hột lúa củ khoai; chính vì vậy nó gần gũi với bạn đọc tới chạnh lòng.

 

Về đồng nhớ dấu chân chim

Về sông nhớ tiếng con bìm bịp kêu

Nhớ mênh mông nắng cuối chiều

Khói cơm ai thổi quyện nhiều bên sông

 

Điều kỳ diệu của thị xã Trà Vinh là rừng cây trong phố. Đi đâu cũng bắt gặp sao dầu me phượng bằng lăng… Gần đây lại thêm thoang thoảng mùi hoa sữa. Những đêm lặng lẽ lá me những chiều quay tròn bông dầu. Biết bao cặp tình nhân đã đi suốt chiều suốt đêm giữa rừng cây trong phố thị. Mắt tôi chạm vào “Cây nội ô” của Tăng Hữu Thơ và không thể nào dứt ngay ra được.

 

Sừng sững như trụ thép

Những hàng cây phố xưa

Lá bay vàng gác xép

Trong gió chiều ngoại ô

 

Trăm tuổi cây tuổi phố

Mấy thăng trầm bể dâu

Mùa trôi trong thớ gỗ

Chở hương đời đi đâu

 

Tôi đọc và tôi thấy sự dày dặn của tập thơ qua từng tác giả. Đó là sự dày dặn về cá tính sáng tạo phong cách tạo văn bản bản lĩnh trong hình thành tứ thơ và nghệ thuật gieo vần cho thơ. Tôi rất thích bài “Lời cho con” mà Vĩnh An viết tặng con gái Thy Thy ngày cháu mới biết gọi tiếng ba lần đầu. Những vần lục bát cứ song sóng xiêu lòng người bởi tình cảm chân chất của người cha thương con hết mực.

 

Ba chưa từng đến mỏi mòn

Thiếp quên bên chiếc nôi con đêm nào

Chưa từng vui đến nôn nao

Lúc con qua khỏi cơn đau bình thường

Ba chưa hề lộ cái thương

Đến xem con đẹp nhất (dường như tiên)

 

Tự hào về con là lẽ bình thường. Nhưng tứ thơ cuối cùng của bài mới chính là điểm nhấn tạo nên sức nặng cho cả bài thơ.

 

Mai con lớn nói được nhiều

Nhớ giùm ba chỉ một điều nghe con

Khi vấp ngã lúc mỏi mòn

Hãy luôn gọi mẹ để còn đứng lên

 

Thủy Nguyên nguyên là kỹ sư có lẽ chính điều đó đã tạo ra dấu ấn trí tuệ cho thơ anh. Kỷ niệm 250 năm nền văn hiến Long Hồ Dinh anh viết:

 

Khi những dấu chân phiêu bạt tới đây thì đất đã có rồi

Đất hoang dã đầy gai rừng muỗi vắt

Giọt mồ hôi tuôn giọt lệ tràn khóe mắt

Hòa với máu làm nồng đượm đất này đây.

Người là cây cột biết đi chống đỡ vòm trời

Vết chân người vạch biên thùy giữa đất liền với biển

Sóng giận dữ ngăn những bàn chân bước đến

Phía sau lưng rừng khép chặt lối về

 

Viết như vậy là viết để mà đi tới- giang cả hai tay chống trời mà đi tới. Trước mặt là mênh mang biển lớn. Trên đầu là thăm thẳm trời xanh. Chất hoành tráng và tráng ca lịch sử trong thơ Thủy Nguyên mạnh như thế xốc tới của người lính. Nhưng tôi vẫn luôn nhìn thấy trong thơ anh những liên tưởng bất ngờ tới chạnh lòng.

 

Ôi những trái me cong như vầng trăng khuyết

Đâu tuổi học trò thường đứng đợi mưa rơi

 

Cách đây hơn một thập kỷ tình cờ tôi đọc được bài “Về thăm bạn giữa đồng xa” của Trần Dũng. Rất mừng là bài thơ đó có mặt trong công trình “50 năm văn học Trà Vinh”. Với tôi đây là một bài thơ hay rất mực Nam Bộ.

 

- Cái thằng bây giờ đen hết nói

Câu đầu tiên bè bạn gặp nhau

Những cú đấm và nụ cười hết cỡ

Chai xị vắt lưng bày ra liền

 

Có gì đâu đơn giản giữa đồng

Sẵn bầy vịt sẵn bùn sẵn rạ

Sẵn đôi tay của tháng ngày đập phá

Một thoáng thôi ngồi đó một thoáng thôi

 

Thế Ngọc- Nguyễn Ngọc Khải- là tác giả tham gia biên soạn công trình “50 năm văn học Trà Vinh”. Tôi biết anh là người viết trên nhiều lĩnh vực nhưng có lẽ duyên nợ nhiều hơn vẫn là với thơ. Thơ anh hồn hậu như con người anh cũng trầm lắng và điềm tĩnh trong giọng điệu.

 

Trăng buông vàng vọt tơ vàng

Bờ tre khóm trúc hóng ngàn giọt trăng

Chia thân trăng xuống giếng làng

Nỗi niềm trăng – tôi bàng hoàng tỉnh mơ

 

Đôi khi Thế Ngọc cũng triết lý. Anh triết lý một cách nhẹ nhàng nhưng càng ngẫm ta càng phải giật mình bởi điều anh đưa ra tưởng đơn giản nhưng lại không hề đơn giản chút nào.

 

Thu vàng lá đỏ đầu song

Bên hiên bờ đá ôm vòng mắt tôi

Em và đất nước

Tôi ơi!

Như tình thu gợi bời bời

Đá rêu!

 

Cách đây gần hai mươi năm tôi thường có dịp uống rượu với Phạm Vinh Ca. Cảm nghĩ của tôi về anh là một con người khép kín thường suy tư hướng nội.  Bởi vậy thơ anh đôi khi cũng hay khép lại một điều gì đó cứ như là hỏi mãi vào cuộc đời-cứ như là hỏi mãi vào cuộc đời một nỗi niềm không dễ gì buông ra được.

 

Giật mình thoắt bốn mươi năm

Bốn mươi năm tưởng mòn chân bởi tình

Trước cơm áo – phận bồng bềnh

Vẫn nghe còn giữa tim rền nhịp yêu

Ngó lên tìm giọt nắng chiều

Thấy quanh mình bóng mây đìu hiu qua

Mơ về một cánh chim xa

 

Hình như Lãng Thanh mạnh hơn về ký nhưng hai bài thơ góp mặt lại rất thơ rất con gái. Đằng sau câu chữ của chị tuổi tác lặn đi đâu mất cả. Một tâm hồn trẻ trung cứ rung lên cuộc dâng hiến của ái tình đến thổn thức.

 

Anh chợt đến như cơn gió thoảng tình cờ ghé ngang khu vườn tĩnh lặng đánh thức từng chiếc lá tưởng chừng như đã ngủ yên trong đêm hoàng hoa bất tận.

Giọt sương màu nhiệm gieo xuống khoảnh khắc đời nhau một tình yêu lớn hơn mộng tưởng đã điên đảo bàn tay em run rẩy trong một bàn tay.

Đêm xôn xao dâng hiến cả khu vườn im lắng hòa cùng bóng nguyệt run run niềm hạnh ngộ cỏ cây nghiêng mình hát khúc hoan ca.

 

Tôi đã nhiều lần đi Cầu Ngang Duyên Hải. Bất ngờ với tôi là dưa hấu mọc bò ra tận mép sóng. Và tôi càng bất ngờ hơn khi mà Châu Cẩm Liên viết:

 

Ngược hướng những chuyến xe bò chở đầy ắp niềm vui ra chợ

Tôi tìm về rẫy dưa

Thanh khiết tuyệt vời trời đất nguyên sơ

Thấp thoáng bóng An Tiêm giữa bạt ngàn màu xanh cổ tích.

 

Tôi rất thích bài thơ “Lớp học trong cơn lũ” của Châu Cẩm Liên bởi sự nhân ái trong ý tưởng mà chị đã gieo thành thơ thành giai điệu đầy cảm xúc của ngôn từ.

 

Học trò tôi ngồi trên cơn lũ học huyền thoại Sơn Tinh – Thủy Tinh

Nỗi khiếp hãi mấy ngàn năm còn quyện trong hương giấy mới

Những đôi mắt ngây thơ ngơ ngác nhìn tôi như thầm hỏi:

Cô ơi thần cũng biết ghen?

 

Thơ viết như kể nhưng triết lý đã được đặt ra nặng như thác lũ và đá núi. Bất ngờ vọt trào một ý tưởng làm cháy bùng bùng biết bao trang giáo án dạy văn chương cho học trò.

 

Thủy Tinh ơi có sá gì một mảnh hồng nhan

Mà khối hận ngàn đời không tan được

Ví có phép màu trở về ngàn năm trước

Mỵ Nương xin nguyện tế thần.

 

Cuộc hành trình thơ Trà Vinh chạy song song cùng lịch sử từ thời cha ông đi mở đất phương Nam. Công trình “50 năm văn học Trà Vinh” chỉ khởi đi từ năm 1955 nhưng chừng đó cũng đủ làm nên một cuộc diễu hành hùng hậu về thơ. 55 tác giả là 55 gương mặt với những cá tính sáng tạo rất khác nhau. Tôi biết Sa Vũ là họa sĩ nhưng khi đọc thơ anh thì tôi hoàn toàn bất ngờ. “Quế Dung xưa” là một bài thơ đẹp như tranh vẽ. Sắc màu và ý tưởng được lộng vào câu chữ. Nhưng đó không phải là thơ của sơn dầu sơn mài mà đích thị đó là thơ của thủy mạc trên lụa.

 

Nhớ Quế Dung nhớ chiều sông Cát

Mây cháy vàng nhuộm tóc hoàng kim

Ta ở đó bốn mùa hương sắc

Chim trắng về xao xuyến con tim

 

“Nhớ Quế Dung” là một bài thơ hay và đẹp như tranh lụa. Tài hoa của Sa Vũ như phẩy từng nét cọ thành thi pháp cho bức tranh thơ thủy mạc ấy vậy mà nó lắng vào tâm can của người đọc tới lạ kỳ.

 

Rồi một buổi mây trôi về xóm

Ta đứng nhìn ngút bóng chim đi

Nhớ Quế Dung thương từng cọng cỏ

Khói sương nào khuất bóng đường quê

 

Hải Triều- Trầm Thị Sương cũng có có chút gì đó hơi trầm lắng trong bài thơ “Trà Vinh quê tôi” của mình. Bài thơ như một lời tâm sự nhẹ nhàng trước lúc chuẩn bị chia xa thì phải.

 

Nơi tôi sinh ra và nơi tôi lớn lên

Thị xã trầm buồn với hàng cây lá đổ

Tếng ve ran nao lòng mùa phượng nở

Tuổi thơ tôi buồn vui qua những con đường

 

Thơ có tiếng ve ran có mùa hoa phượng nở nhưng tình thơ buồn lắm. Có lẽ Hải Triều gởi thông điệp lại chăng?

 

Trà Vinh ơi ngày mai này đi xa- tôi vẫn nhớ

Những hàng cây như những chiếc dù trên phố

Che mát những trưa hè

Ấm áp những ngày đông…

 

Nhân đọc phần thơ của “50 năm văn học Trà Vinh” tôi muốn nói thêm một kỷ niệm với Phạm Tường Bá. Đó là lần tôi cùng anh đi mừng thọ nhà thơ Truy Phong 80 tuổi tại cù lao Quới Thiện. Ngày hôm sau anh ở lại với tôi một buổi sáng kể cho tôi nghe chuyện nuôi vịt chạy đồng chuyện bạn bè văn nghệ Trà Vinh thời nay và thời chiếm đóng. Dài theo lời kể của anh tôi càng nghe càng thấy anh em văn nghệ Trà Vinh sao mà dễ thương làm vậy. Vượt lên số phận và hoàn cảnh bằng tâm lực và trí lực của mình họ đã làm nên gương mặt văn học Trà Vinh dày dặn tính cách của một vùng đất từng có tên là phủ Lạc Hóa. Niềm vui lớn hôm nay đang thăng hoa cùng nhiều cây bút; trẻ có già có nam có nữ có mà tôi không thể nào điểm ra hết được. Thôi thì… nói như Phạm Tường Bá đành gởi lại “Nụ cười người cũ”.

 

 

Từ trong nỗi nhớ bước ra

Mong manh dáng nhỏ ngỡ là chiêm bao

Thuở xưa vừa chớm má đào

Hồng nhan nghiêng rót ngọt ngào cho ta

Lênh đênh dòng nước chia xa

Kêu thương con sáo bay qua cõi người

Vai ta bạt áo cuối trời

Mười năm chợt gặp nụ cười ăn năn.

 

2.

Phần văn được nhóm tác giả biên soạn cho trình làng tới gần cả ngàn trang sách.

Phần cùng bạn đọc nhóm tác giả này đã viết:

 

Tuyển tập “50 năm văn học trà Vinh”- phần văn- là công trình sưu tầm tuyển chọn các tác phẩm: bút ký truyện ngắn tiểu thuyết của các tác giả hiện đang sinh sống tại Trà Vinh các tác giả là người Trà Vinh đang sinh sống ở nhiều nơi và các tác giả ở nhiều nơi viết về Trà Vinh- trong đó có những tác giả đã qúa cố”.

50 năm văn học Trà Vinh”- phần văn- chưa thể bao quát là gương mặt văn xuôi Trà Vinh. Vì bởi không chỉ những tác phẩm viết tư trong chiến tranh phần lớn bị thất lạc mà ngay những tác phẩm được sáng tác từ trong hoà bình do hoàn cảnh khách quan và chủ quan cũng bị thất lạc khá nhiều”.

 

Mặc dù thất lạc khá nhiều nhưng tôi đã gặp trong phần văn rất nhiều những tác giả của hôm nay và của hôm qua- trong đó có nhiều gương mặt đã từng được khẳng định tên tuổi trên bầu trời văn học quốc gia như nhà văn Nguyễn Thi nhà văn Trần Bạch Đằng nhà văn Anh Động… Xúc động hơn cả là tôi bắt gặp tong phần văn những gương mặt văn chương đồng bằng châu thổ mà tôi vô cùng kính yêu và khâm phục. Đó là nhà văn Anh Đào nhà văn Lương Hiệu Vui nhà văn Nhật Tuấn nhà thơ Lý Lan nhà thơ Nguyễn Bá nhà thơ Lê Chí… và rất nhiều những gương mặt văn chương của miền đất châu thổ phương Nam rừng rực nắng và lồng lộng gió.

Trước hết tôi xin dành những tình cảm tốt đẹp nhất cho họa sĩ Phong Ba người đã có những bài ký tuyệt đẹp cho một thời  “vẽ chân dung Bác Hồ” và minh họa cho tờ báo “Lửa Hồng. Kế đó là chị Nguyễn Thị Mây với “Bất ngờ phố thị” rồi chị Phạm Nghi Dung ngọt ngào khi “Đất hát cùng người” anh Phù Sa Lộc với “Bọ rầy” đầy ký ức tuổi thơ anh Trần Thôi với “Trôi dạt những mảnh đời” tròn xoe những hột vịt trắng như thân phận con người…

Xúc động hơn cả là tôi gặp được Đặng Tấn Đức của “Chiếc ghe lườn” qua “Người xưa” “Âm vang Ba Động “Sáu Cường” “Trên vùng đất anh Hùng” và “Bên cù lao Tân Quy”. Với tôi Đặng Tấn Đức là người đầy duyên nợ qua nhiều lần đi thực tế sáng tác với nhau trên quê hương Trà Vinh yêu dấu. Rất mừng là tôi được đọc lại “Chuyện bịa” của Ngô Vĩnh Nguyên. Nói là bịa nhưng đó là bịa văn học mà Ngô Vĩnh Nguyên hư cấu lên từ nhng chuyện rất thật của đời thường của thập kỷ 80. Thập kỷ ấy đồng chí Năm Đáng từng là bí thư của hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh mà nhà thơ Lê Tân đã khắc họa khá sắc nét qua tiểu thuyết “Chân dung người đồng bằng”. Rồi truyện ngắn về loài hoa bỏ vòi ra biển của Ngọc Mai khi “Tâm không còn nghe tiếng sóng không còn nghe tiếng rì rào của hàng dương. Anh chỉ còn nghe tim mình và tim Thảo đập rộn ràng. Cả hai chìm giữa một rừng hoa muống biển… Đêm đó chỉ có biển và trăng chứng kiến một sự kết hợp thiêng liêng”.

Tôi đọc Diệp Hồng Phương khá nhiều nhưng tôi không ngờ Phương lại cùng quê với Nguyễn Thị Mây Phạm Nghi Dung Quốc Bình Hà Phương Vân Hà Minh Thuyết và nhà văn Lương Hiệu Vui.

57 tác phẩm của 38 tác giả trong phần văn của “50 năm văn học Trà Vinh” là một cuộc duyệt binh qua lễ đài văn chương của cả nước mà chúng ta có thể tự hào về miền đất nắng vàng và gió lộng. Đọc cuốn sách này tôi muốn nhấn mạnh rằng văn là đẹp mà chương là sáng- văn chương là sự sáng đẹp về miền đất và tâm hồn cùng tính cách và bản lĩnh của con người Trà Vinh.

Không thể điểm được từng tác giả  của phần văn gần ngàn trang giấy tôi xin được dừng lại ở tác phẩm “Đôi mắt” của Xuân Vi Bùi Quang Huy: “Tôi giật mình. Phượng hỏi nhưng vẫn không nhìn lên lúi húi chụm lửa. Ánh lửa cháy giòn nổ tí tách hắt vào mặt làm cho má Phượng càng đỏ thêm…

Gió chướng về chiều thổi nhè nhẹ mang hơi lúa xuân thơm nồng ùa vào nhà”. Là tôi mượn mắt người mắt lửa để nói về “Tiếng vọng của biển” mà Lê Tân đã viết” “Ôi! Ngoài kia tiếng sóng biển âm vang rì rào… phải chăng tiếng vọng của biển như thấm sâu vào ký ức tôi đã trở thành tiếng nấc giữa lòng”.  Với tôi đó là tiếng nấc hạnh phúc trước một dòng chảy văn chương đang ào ạt tuôn ra biển lớn !

 

                                                                                H.T.T.

hotinhtam

vui cùng Dzu và Trọng Dũng

Ngày chủ nhật thấy Dzu vùi đầu làm việc PV Trong Dũng đã mời Dzu đi thư giãn bằng Trận nhậu với em gái Huyền Trâm- chủ tiệm uốn tóc nữ.

đây là tô bánh đa buổi sáng của Dzu

đây là mồi nhậu Trọng Dũng đãi Dzu

Nguyễn Trọng Dũng và em gái Huyền Trâm

Dzu và em gái Huyền Trâm

CHÚC HUYỀN TRÂM THÀNH ĐẠT VỚI NGHỀ YÊU THÍCH!