phòng chống địch tiến công bằng vũ khí công nghệ cao

một số phương tiện chiến tranh hiện đại (9)


Tuần sau toàn bộ sinh viên năm thứ nhất sẽ học phần rèn luyện quân sự phổ thông trong đó có 6 tiết lý thuyết về bài Phòng chống vũ khí hủy diệt trình độ cao. HTT đưa entry này để các bạn sinh viên tham khảo.

một số phương tiện chiến tranh hiện đại (0)

 

I. Những vấn đề chung
1.Khái niệm:
Vũ khí công nghệ cao (VKCNC) là vũ khí được nghiên cứu thiết kế chế tạo dựa trên những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại có sự nhảy vọt về chất lượng và tính năng kĩ thuật chiến thuật.
Khái niệm trên nói lên 2 nội dung sau:
- VKCNC được nghiên cứu thiết kế chế tạo dựa trên những thành tựu của cuộc CMKHCNHĐ là lĩnh vực điện tử và CNTT có sự nhảy vọt về chất lượng và kĩ năng kĩ thuật chiến thuật.
- Lịch sử của chiến tranh đã trải qua 4 giai đoạn phát triển của vũ khí
+ Vũ khí lạnh: cung tên giáo mác.....
+ Vũ khí nóng: cùng với sự ra đời của thuốc nổ (TK10)
+ Vũ khí hạt nhân; 1945
+ Vũ khí CNC: 1991 - chiến tranh Mĩ- Irắc
2. Đặc điểm:
VKCNC có 1 số đặc điểm sau:
- Hiệu suất của vũ khí phương tiện tăng gấp nhiều lần so với vũ khí phương tiện thông thường hàm lượng tri thức kĩ năng tự động hoá cao tính cạnh tranh cao được nâng cấp liên tục.
- VKCNC hay còn gọi là vũ khí “thông minh” vũ khí tinh khôn bao gồm nhiều chủng loại như Vk huỷ diệt lớn VKHN VKHH VK sinh học VK được chế tạo dựa trên những nguyên lý kĩ thuật mới như VK laze chùm tia chùm hạt pháo điện từ....
- TK 21 VK “thông minh” dựa trên cơ sở tri thức sẽ trở lên phổ biến cụ thể là đạn pháo đạn cối điều khiển bằng laze rađa hồng ngoại bom mìn thông minh kết hợp với các thiết bị trinh thám để tấn công mục tiêu. Tên lửa thông minh có thể tự phân tích phán đoán ra quyết định tấn công mục tiêu súng thông minh do máy tính điều khiển có thể tự động nhận biết mục tiêu xe tăng thông minh vượt qua các chướng ngại vật nhận biết các đặc trưng khác nhau của mục tiêu mức độ uy hiếp của mục tiêu và điều khiển vũ khí tiến công... nhờ đó có hoả lực và sức đột kích rất mạnh.
Tóm lại VKCNC có những đặc điểm nổi bật là khả năng tự động hoá cao tầm bắn (phóng) xa độ chính xác cao uy lực sát thương lớn.



 

Thủ tướng chính phủ  

(đã kí )     

3. Thủ đoạn đánh phá và khả năng sử dụng VKCNC của địch trong chiến tranh (nếu xảy ra)
- Chiến tranh tương lai (nếu xảy ra) đối với nước ta thì đối phương sẽ sử dụng VKCNC là chủ yếu nhằm mục đích giành quyền làm chủ trên không - làm chủ chiến trường phá hoại các mục tiêu kinh tế - QP của ta tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng tiến công trên bộ trên biển đổ bộ đường không cùng các hoạt động bạo loạn lật đổ của lực lượng phản động trong nước gây tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân qua đó gây sức ép về chính trị buộc ta phải chấp nhận các điều kiện do chúng đặt ra.
- Nếu CT xảy ra có thể xp từ nhiều hướng: bộ không biển; phạm vi toàn quốc với nhịp độ cao cường độ lớn ngay từ đầu và trong suốt quá trình chiến tranh. Tiến công hoả lực bằng VKCNC của CNĐQ vào VN có thể là 1 gđ trước khi đưa quân đổ bộ đường biển hoặc đưa quân tiến cong trên bộ với quy mô lớn cường độ ác liệt từ nhiều hướng và nhiều mục tiêu cùng 1 lúc đánh từng đợt lớn dồn dập kết hợp đánh nhỏ lẻ nhiều ngày đêm có thể kéo dài vài giờ hoặc nhiều giờ 1 vài ngày hoặc nhiều ngày.
4.Những điểm mạnh-yếu của vũ khí CNC:
- Khảo sát:
+ Mĩ - Irắc (1991): 42 ngày trong đó tiến công đường không 38 ngày.
+ Mĩ - Namtư (1999): 78 ngày
+ Mĩ - Afganixtan (2001): 90 ngày đường không 39 ngày.
+ Mĩ - Irắc (2003): 25 ngày đường không 14h.
+ Trong ct vùng Vịnh (1991): Mĩ phóng 45 quả tên lửa hành trình Tomahawk thì có 4 quả bị hỏng 1 quả bị phòng không Irắc bắn rơi 37 quả trúng mục tiêu đạt hiệu suất 67%.
+ Trong chiến dịch “Con cáo sa mạc” (1998) Mĩ phóng 415 TLHT 325 quả Tomahawk dự kiến 100/147 mục tiêu của Irắc bị phá huỷ số TLHT của Mĩ chỉ đánh trúng 20% vì Irắc đã có kinh nghiệm phòng tránh.
+ Trong chiến tranh Irắc (2003) Mĩ - Anh phóng trên 1000 TLHT các loại trên 800 Tomahawk 14000 bom đạn có điều khiển chính xác cao.
Từ cuộc khảo sát trên có thể rút ra 1 số điểm mạnh - yếu của VKCNC như sau:
a) Mạnh:
- Độ chính xác cao uy lực sát thương lớn tầm hoạt động xa.
- Có thể hoạt động trong những vùng nhiễu thời tiết phức tạp cả ngày lẫn đêm đạt hiệu quả cao hơn hàng chục trăm lần so với vũ khí thông thường.
- Một số loại VKCNC còn gọi là VKTM có khả năng nhận biết địa hình đặc điểm mục tiêu và tự động tìm diệt.
b) Yếu:
- Thời gian trinh sát xử lí số liệu để lập trình phương án đánh phá phức tạp nếu mục tiêu thay đổi dễ mất thời cơ đánh phá.
- Dựa hoàn toàn các phương tiện kĩ thuật nên dễ bị đối phương đánh lừa.
- Một số loại TLHT có tầm bay thấp tốc độ bay chậm hướng bay theo quy luật nên dễ bị bắn hạ bằng Vk thông thường: pháo binh tên lửa tầm gần bắn hạ.
- Không thể kéo dài vì quá tốn kém: TL Tomahawk 1 1-1 2 tr USD/quả; TL đạn đạo chống ngầm RUR-5 (Mĩ) 84 tr USD/quả; tên lửa A-2-A AGM 142 (Ixraen) 154 tr USD/quả. Dễ bị đối phương tập kích vào các vị trí triển khai của VKCNC.
- Dễ bị tác động bởi điều kiện địa hình thời tiết dẫn đến hiệu quả thực tế khác so với lí thuyết.



 

Thủ tướng chính phủ

(đã kí )          



 

alt 

II. Một số giải pháp phòng chống địch tiến công hoả lực bằng VKCNC:
1. Biện pháp thụ động:
a) Phòng chống trinh sát của địch:
- Làm hạn chế đặc trưng của mục tiêu: hệ thống trinh sát hoặt động khi thực hành trinh sát đều thông qua việc tìm kiếm các đặc trưng vật lý do mục tiêu bộc lộ để phát hiện vì vậy việc sử dụng các thủ đoạn kĩ thuật chiến thuật để làm giảm đặc trưng vật lí của mục tiêu xoá bỏ sự khác biệt giữa mục tiêu với môi trường xung quanh là sự vận dụng và phát triển của kĩ thuật nguỵ trang truyền thống hoặc sử dụng các biện pháp kĩ thuật như giảm bớt các đặc trưng ánh sáng âm thanh điện từ bức xạ hồng ngoại của mục tiêu và có thể che giấu mục tiêu.
- Che giấu mục tiêu: lợi dụng môi trường tự nhiên như địa hình địa vật rừng cây bụi cỏ để che giấu mục tiêu đồng thời lợi dụng những hang động gầm cầu là những nơi che giấu có hiệu quả lợi dụng đêm tối sương mù màn mưa để che dấu âm thanh. a/s điện từ nhiệt kiểm soát chặt chẽ việc mở máy thông tin rada hoặc phát xạ sóng điện từ của các thiết bị TTLL.
- Nguỵ trang mục tiêu: sử dụng 1 cách khoa học các khí tài nguỵ trang: màn khói lưới nguỵ trang nghi binh là 1 biện pháp chống trinh sát có hiệu quả và kinh tế. Nguỵ trang hoạt động trên cơ sở nguỵ trang truyền thống sử dụng kĩ thuật làm thay đổi hình dáng mục tiêu biến mục tiêu không bị địch chú ý hoặc thông qua việc thả màn khói hay sợi bạc có thể ngăn chặn được rađa và trinh sát hồng ngoại của đối phương.
- Tổ chức tốt việc nghi binh đánh lừa địch: là hành động tạo hiện tượng giả để đánh lừa đối phương nếu tổ chức các hoạt động tác chiến giả có kế hoạch có mục đích để làm phân tán làm suy yếu khả năng trinh sát của địch có thể làm cho chúng nhận định sai dẫn đến sai lầm từ đó ta có thể kiềm chế điều động được chúng.
+ Theo không gian có nghi binh chính diện bên sườn tung thâm (vào sâu) trên bộ trên không trên biển.
+ Theo mục đích có thể chia thành: nghi binh thể hiện sức mạnh tỏ ra yếu kém thể hiện thế tiến công rút lui.
+ Khktqs hiện đại đã tạo ra nhiều thủ đoạn nghi binh mới như nghi binh binh lực (con người) nghi binh hoả lực nghi binh điện tử và các loại nghi binh khác ngoài ra còn tổ chức các trận địa giả để đánh lừa hệ thống trinh sát - rađa ném bom của đối phương kết hợp đk tự nhiên địa hình địa vật để làm thay đổi cục bộ nền mt của chiến trường để đánh lừa - mê hoặc đối phương.
b) Dụ địch đánh vào những mục tiêu có giá trị thấp làm chúng tiêu hao lớn lợi dụng đac điểm của VKCNC là giá thành cao lượng sử dụng có hạn chúng ta có thể sử dụng mục tiêu có giá trị thấp làm phân tán lực lượng địch gây tiêu hao lớn cho chúng.
c) Tổ chức-bố trí lực lượng phân tán có khả năng tác chiến độc lập:
- Tổ chức bố trí ll phân tán là để thu nhỏ qui mô của các ll lớn mỗi đv có thể đồng thời hực hiện nhiều nv phòng thủ tấn công-cơ động-chi viện. Bố trí phân tán lực lượng không theo qui tắc xd khu vực tác chiến du kích nhỏ lẻ đa năng nhưng có thể tập trung nhanh khi cần thiết. Bố trí như vậy sẽ giảm thiểu tổn thất khi địch sử dụng VKCNC.
- Khả năng tác chiến độc lập và tập trung cao sẽ giảm bớt sự chi viện của ll dự bị bố trí phân tán sẽ tăng thêm khó khăn cho đối phương trong viêc trinh sát phát hiện mục tiêu phán đoán tình hình xác định phạm vi đánh làm giảm hiệu quả tác chiến của VKCNC.
d) Kết hợp xd cơ sở hạ tầng-đô thi với xd hầm ngầm để tăng khả năng phòng thủ:



 

Thủ tướng chính phủ  

(đã kí )          

2. Biện pháp chủ động:
a) Gây nhiễu các trang bị trinh sát của địch làm giảm hq trinh sát:
- Gây nhiễu là 1 biện pháp cơ bản để làm giảm hq các thiết bị trinh sát của địch khiến chúng không thể phát huy hết tác dụng trong đó có 1 số biện pháp gây nhiễu:
+Tích cực phá hoại hệ thống thinh sát của địch sử dụng nhiều thủ đoạn gây nhiễu nhưng phải bảo đảm bí mật: bố trí các đài gây nhiễu ở nơi hiểm yếu di chuyển liên tục vì khi gây nhiễu ta cũng bị bộc lộ địch có thể phát hiện.
+Hạn chế nl bức xạ về phía ăngten thu của địch phân bố các đài quan sát hợp lí thay đổi thường xuyên qui mô liên lạc.
+Dùng hoả lực đánh vào những chỗ hiểm yếu tiêu diệt nguồn gây nhiễu của đối phương.
b)Nắm bắt thời cơ-chủ động đánh địch từ xa phá thế tiến công của địch:
- Huấn luyện cho nd và ll vũ trang 3 thứ quân biết sử dụng các loại VK trong tay bắn máy bay TL của địch trong tầm bắn hiệu quả khi nó bay qua khu vực đóng quân của mình.
c) Lợi dụng tính đồng bộ của VKCNC đánh vào mắt xích then chốt:
- Tập trung đánh vào những hê thống có tác dụng bảo đảm điều hành gây ra sự hỗn loạn và làm mất khả năng sử dụng VKCNC.
- VKCNC có thể đồng thời sử dụng trên không biển đất liền nên phải tổ chức đánh địch từ xa đồng thời lợi dụng thời tiết khắc nghiệt (mưa mù bão) để tập kích vào các hê thống VKCNC.
3.Cơ động-phòng tránh nhanh-đánh trả kịp thời:
- Khi cơ động phòng tránh thì phải đảm bảo bí mật cơ động nhanh tới đúng địa điểm thời gian sẵn sàng chiến đấu cao.
- Công tác chuẩn bị phải chu đáo có kế hoạch di chuyển chặt chẽ khi cơ động phải tận dụng địa hình rừng cây khe suối hạn chế trinh sát phát hiện của địch có nhiều đường cơ động có hướng chính - phụ nghi binh tổ chức nguỵ trang tốt.

(Trích tài liệu GDQP)



 

Thủ tướng chính phủ  

(đã kí )          



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (1)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (2)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (3)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (4)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (5)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (6)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (7)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (8)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (11)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (8)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (10)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (12)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (13)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (14)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (15)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (16)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (17)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (18)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (20)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (21)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (22)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (23)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (24)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (25)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (26)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (27)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (28)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (29)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (30)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (31)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (33)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (32)



một số phương tiện chiến tranh hiện đại (33)



CHÚC CÁC BẠN HỌC TỐT!


hotinhtam

tiếp theo

Nagasaki
Nagasaki trong Thế chiến thứ hai
Nagasaki đã từng là thành phố cảng lớn nhất của miền nam Nhật Bản và có vai trò hải quân rất quan trọng nhờ hoạt động công nghiệp đa dạng từ việc sản xuất đạn dược tàu bè thiết bị quân sự đến các vật liệu chiến tranh khác.

Trái với nhiều mặt hiện đại của Hiroshima số lớn nhà cửa ở đây được xây theo lối kiến trúc cổ dùng gỗ hoặc khung gỗ tường gỗ (có hoặc không có vữa) và mái dốc. Nhiều cơ sở công nghiệp và kinh doanh đặt trong các ngôi nhà bằng gỗ hoặc các vật liệu khác không được thiết kế để chịu đựng bom đạn. Nagasaki trong nhiều năm bị bỏ mặc phát triển không quy hoạch. Trong thung lũng công nghiệp tập trung nhà ở xây dựng gần các nhà máy và sát nhau.

Nagasaki chưa từng bị ném bom qui mô lớn. Tuy vậy ngày 1 tháng 8 năm 1945 một số quả bom thông thường có sức công phá lớn đã ném xuống thành phố. Vài quả ném trúng các khu vực có xưởng đóng tàu ở tây nam thành phố một vài quả trúng nhà máy thép và chế tạo vũ khí của Mitsubishi và sáu quả bom ném xuống bệnh viện của trường y Nagasaki trong đó có 3 quả trúng các ngôi nhà. Mặc dù thiệt hại tương đối nhỏ bom đã gây sự lo ngại và nhiều người – chủ yếu là trẻ em – được sơ tán về vùng nông thôn nhờ đó mà giảm số dân trong thành phố ở thời điểm nổ bom nguyên tử.

Ở phía bắc thành phố có trại giam các tù nhân từ Khối Thịnh vượng chung Anh một số đang làm việc trong các mỏ than và chỉ biết về vụ nổ khi lên tới mặt đất. Ít nhất có 8 tù binh chết bởi vụ nổ.

Nổ bom
Sáng ngày 9 tháng 8 năm 1945 pháo đài bay B-29 Bock s Car cơ trưởng Thiếu tá Charles W. Sweeney mang quả bom nguyên tử "Fat Man" với mục tiêu số một là Kokura mục tiêu số hai là Nagasaki. Nhiệm vụ cho vụ tấn công nguyên tử thứ hai gần tương tự nhiệm vụ ở Hiroshima. Hai chiếc B-29 bay trước đó 1 giờ để kiểm tra thời tiết và hai chiếc B-29 khác bay cùng Bock s Car với nhiệm vụ đo đạc và ghi hình. Sweeney cất cánh với quả bom đã sẵn sàng và thiết bị an toàn vẫn bật.

Quan sát từ hai chiếc máy bay đi trước cho biết thời tiết ở cả hai thành phố đều tốt. Khi máy bay của Sweeney đến điểm gặp gỡ trên không ngoài khơi Nhật Bản chiếc B-29 thứ ba (phi công là sĩ quan chiến dịch của nhóm – James I. Hopkins Jr.) có nhiệm vụ ghi hình đã không đến được điểm hẹn này. Bock s Car và chiếc B-29 cho nhiệm vụ đo đạc đã bay vòng tròn trong 40 phút mà không gặp Hopkins. Đã chậm 30 phút so với kế hoạch Sweeney quyết định bay đi mà không có Hopkins.

Tới lúc đến Kokura khoảng nửa giờ sau mây che phủ 7/10 thành phố ngăn cản tầm nhìn theo yêu cầu. Sau ba lần bay qua thành phố với nhiên liệu của chiếc Bock s Car đã giảm do việc bơm nhiên liệu từ bồn dự trữ không hoạt động sau khi cất cánh họ bay về mục tiêu thứ hai Nagasaki. Tính toán tiêu thụ thực hiện trên đường bay cho thấy rằng chiếc Bock s Car không đủ nhiên liệu để tới được căn cứ trên đảo Iwo Jima và như vậy họ phải đổi hướng về đảo Okinawa. Quyết định đưa ra lúc đó là nếu Nagasaki cũng bị mây che phủ họ sẽ mang quả bom trở về Okinawa và trả nó xuống biển trong trường hợp cần thiết. Phi công điều khiển vũ khí Fredrick Ashworth sau đó quyết định rằng sẽ sử dụng radar để tiếp cận nếu mục tiêu bị che phủ.

Vào lúc 7 giờ 50 phút giờ Nhật Bản báo động máy bay vang lên ở Nagasaki nhưng sau đó báo yên lúc 8 giờ 30 phút. Khi chỉ có hai chiếc B-29 bay đến lúc 10 giờ 53 phút người Nhật cho rằng đó là những máy bay do thám và không phát lệnh báo động nữa.

Vài phút sau lúc 11 giờ Đại úy Frederick C. Bock thả các thiết bị được gắn với 3 cái dù. Những thiết bị này bao gồm những thông điệp gửi giáo sư Ryokichi Sagane nhà vật lý hạt nhân của Đại học Tokyo người cùng học với ba trong số các nhà khoa học nghiên cứu vũ khí hạt nhân ở Đại học California tại Berkeley thúc giục ông nói với công chúng về nguy hiểm liên quan đến những vũ khí giết người hàng loạt này. Những thông điệp sau đó được giới quân sự tìm thấy nhưng không chuyển đến cho giáo sư Sagane.

Nagasaki - trước và sau vụ nổ nguyên tửLúc 11 giờ 01 vào phút cuối cùng mây đứt quãng trên bầu trời Nagasaki cho phép sĩ quan thả bom trên chiếc Bock s Car Kermit Beahan nhìn thấy sân vận động thành phố bằng mắt qua lớp mây mỏng. Quả bom "Fat Man" mang lõi khoảng 6 4 kg Plutonium 239 được thả xuống thung lũng công nghiệp của thành phố. 43 giây sau nó nổ ở 469 mét cách mặt đất ở giữa xưởng thép và vũ khí của Misubishi ở xưởng thủy lôi của Misubishi-Urakami. Vụ nổ có đương lượng 21 kiloton nhiệt độ cao nhất đạt được là 3.871°C (7.000° Fahrenheit) và sức gió khoảng 1.000 km/giờ (624 mph).

Lúc bom nổ có khoảng 200 ngàn người trong thành phố. Quả bom thả vội vàng đã nổ ở đoạn giữa hai mục tiêu chính xưởng thép và vũ khí ở phía bắc và xưởng thủy lôi ở phía nam. Nếu bom rơi chếch về phía nam vùng thương mại và dân cư của thành phố có thể bị thiệt hại nặng nề hơn nhiều. Đây là yếu tố chủ yếu lý giải vì sao quả bom này với đương lượng nổ lớn hơn quả "Little Boy" ở Hiroshima nhưng gây thiệt hại ít trầm trọng hơn.

Theo một số nguồn ước tính 70.000 người trên tổng số 240.000 dân cư Nagasaki chết ngay và 60.000 người khác bị thương. Bán kính vụ nổ là 1 6 km những đám cháy trải dài từ phần bắc của thành phố cho đến 3 2 km cách vụ nổ về phía nam. Một số lượng không tính toán được những người sống sót từ vụ nổ ở Hiroshima sơ tán đến Nagasaki và lại bị đánh bom ở đây.

Nguồn: Net.

hotinhtam

tiếp theo

Thương vong sau vụ tấn công
Đến tháng 12 năm 1945 hàng ngàn người chết bởi vết thương nhiễm độc phóng xạ đưa tổng số tử vong ở Hiroshima trong năm 1945 lên 140 ngàn. Trong thời gian 1950 đến 1990 thống kê ước tính hàng trăm người chết hàng năm do nhiễm phóng xạ của hai vụ nổ Hiroshima và Nagasaki.

Những công trình còn sót lại
Một số công trình bê tông ở Hiroshima rất vững vàng để chống động đất ở Nhật và cấu trúc của chúng đã không sụp đổ dù rằng chúng khá gần trung tâm vụ nổ. Quả bom nổ trên cao sức ép vụ nổ từ trên xuống chứ không từ ngang thân đã giúp cho một trong những công trình đó còn tồn tại đó là Genbaku hay A-bomb Dome (Vòm bom nguyên tử) một kiến trúc được xây dựng năm 1915 theo thiết kế của kiến trúc sư Jan Letzel người Séc. Công trình này vốn là nhà trưng bày chỉ vài mét cách trung tâm của vụ nổ trên mặt đất chiếu từ trên không xuống. Khu đất quanh phế tích này còn có tên Khu tưởng niệm Hòa bình Hiroshima và được UNESCO đưa vào danh sách Di sản thế giới năm 1996 bất chấp phản đối của Mỹ và Trung Quốc.

Những sự kiện từ ngày 7 đến 9 tháng 8
Sau vụ nổ ở Hiroshima Tổng thống Truman tuyên bố "nếu bây giờ họ không chấp nhận các điều kiện của chúng ta họ sẽ phải gánh chịu cơn mưa tàn phá từ trên trời những thứ chưa hề được biết đến trên Trái Đất". Ngày 8 tháng 8 năm 1945 những truyền đơn được thả từ trên không những cảnh báo phát tới Nhật Bản từ Đài phát thanh trên đảo Saipan (khu vực Nagasaki đã không nhận được những truyền đơn này cho đến ngày 10 tháng 8 mặc dù chiến dịch rải truyền đơn trên toàn Nhật Bản đã bắt đầu trước đó cả tháng).

Chính phủ Nhật Bản vẫn không phản ứng gì với Tuyên bố Potsdam. Nhật hoàng Hirohito chính phủ và Hội đồng chiến tranh vẫn đang xem xét bốn yêu cầu đổi lấy sự đầu hàng của Nhật: duy trì kokutai (tổ chức đế quốc và thể chế quốc gia) giao cho các cơ quan đầu não của đế quốc trách nhiệm giải trừ vũ trang và giải trừ quân bị không chiếm đóng Nhật Bản và ủy quyền cho chính phủ Nhật Bản trừng phạt tội phạm chiến tranh.

Bộ trưởng Ngoại giao Xô viết Vjacheslav Mihajlovich Molotov ngày 5 tháng 8 thông báo tới Tokyo về việc hủy bỏ Hiệp ước trung lập Xô-Nhật. Chỉ vài phút sau nửa đêm ngày 9 tháng 8 giờ Tokyo bộ binh thiết giáp và không quân Liên Xô mở cuộc tấn công đội quan Quan Đông ở Mãn Châu. Bốn giờ sau đó Tokyo nhận được lời tuyên chiến của chính phủ Liên Xô. Giới quân sự cấp cao của lục quân Nhật Bản với sự ủng hộ của Bộ trưởng chiến tranh Anami Korechika bắt đầu chuẩn bị ban hành lệnh thiết quân luật trong cả nước nhằm ngăn chặn bất kỳ kẻ nào nỗ lực cho hòa bình.

Trách nhiệm chuẩn bị cho nổ quả bom thứ hai được giao cho Đại tá Tibbets chỉ huy phi đoàn 509 ở Tinian. Dự kiến đánh bom ngày 11 tháng 8 tại Kokura trận đột kích chuyển sớm lên để tránh thời gian 5 ngày tiết trời xấu bắt đầu từ ngày 10 tháng 8. Ba quả bom ở tìnn trạng tháo rời đã được chuyển đến đảo Tinian với ký hiệu ghi bên ngoài F-31 F-32 và F-33. Ngày 8 tháng 8 việc kiểm tra lần cuối cùng hoàn thành ở Tinian bởi Thiếu tá Charles Sweeney người sẽ lái chiếc B-29 Bockscar thả bom. Việc lắp rắp F-33 cho công tác kiểm tra và F-31 được dùng cho nhiệm vụ ngày 9 tháng 8.

hotinhtam

tiếp theo

Nổ bom
Hiroshima là mục tiêu ưu tiên (số hai là Kokura và mục tiêu dự bị là Nagasaki) của nhiệm vụ tấn công nguyên tử ngày 6 tháng 8 năm 1945. Chiếc B-29 "Enola Gay" của phi đoàn 509 cơ trưởng Đại tá Paul Tibbets xuất phát từ North Field – căn cứ không quan trên đảo Tinian ở tây Thái Bình Dương cách Nhật Bản khoảng 6 giờ bay. Ngày thả bom là 06 tháng 08 bởi trước đó có mây hình thành trên bầu trời mục tiêu hạn chế tầm quan sát bằng mắt thường từ trên không. Ở thời điểm bom rơi thời tiết tốt và phi hành đoàn cùng thiết bị hoạt động trôi chảy. Đại úy William Sterling Parsons đưa quả bom "Little Boy" vào tình trạng sẵn sàng sau khi máy bay cất cánh trợ tá của ông - Morris R. Jeppson dỡ các thiết bị an toàn của quả bom 30 phút trước khi tới mục tiêu. Cuộc tấn công được thực hiện đúng như kế hoạch quả bom rơi bởi trọng lượng với 60 kg Uranium 235.

Khoảng 1 giờ trước cuộc tấn công người Nhật đã phát hiện bằng radar một số máy bay của Mỹ tiếp cận lãnh thổ phía nam Nhật Bản. Báo động được phát ra và việc phát thanh ngừng ở nhiều thành phố bao gồm cả Hiroshima. Các máy bay tiếp cận bờ biển với cao độ rất lớn. Lúc 8 giờ sáng trạm radar ở Hiroshima thấy rằng số lượng máy bay đang tiến vào rất ít – không hơn 3 chiếc – và bỏ lệnh sẵn sàng đột kích bằng không quân (để tiết kiệm nhiên liệu và gìn giữ lực không quân người Nhật không đánh chặn những đội hình máy bay nhỏ).

Hiroshima trước thảm họa
Hiroshima sau thảm họaBa chiếc máy bay bị phát hiện đó đều là B-29: chiếc "Enola Gay" (đặt tên theo mẹ của Thiếu tá Tibbets) chiếc "The Great Artiste" (Nghệ sĩ vĩ đại) với các thiết bị đo đạc và một chiếc khác không tên (sau đó được đặt là "Necessary Evil") là máy bay ghi hình. Cảnh báo ở mức trung bình trên sóng radio tới dân chúng rằng nên trú ấn nếu nhìn thấy các máy bay B-29 nhưng người ta cho rằng đây là một cuộc do thám chứ không có đột kích hàng không.

Lúc 8 giờ 15 (giờ Hiroshima) chiếc Enola Gay thả quả bom nguyên tử "Little Boy" trên bầu trời trung tâm Hiroshima. Quả bom nổ cách mặt đất khoảng 600 m với đương lượng nổ 13 kiloton (vũ khí nguyên tử sử dụng U-235 bị coi là không có hiệu năng cao chỉ có 1 38% khối lượng của chúng phân hạch) ngay lập tức giết chết ít nhất 90.000 người. Trong số này có khoảng 2 ngàn người Mỹ gốc Nhật và từ 800 đến 1.000 người Mỹ khác mang hậu quả của vụ nổ. Họ là những công dân Mỹ đang theo học ở Nhật và không thể rời khỏi Nhật Bản khi chiến tranh nổ ra. Có thể có cả hàng trăm tù binh phe Đồng Minh chết trong lần này. Bán kính bị tàn phá là 1 6 km và cháy trên diện tích 4 4 km vuông. Ước tính 90% nhà cửa ở Hiroshima bị hủy diệt hoặc hư hại.

Người Nhật biết về vụ nổKiểm soát viên đài phát thanh ở Tokyo của hãng truyền thông Nhật bản phát hiện ra rằng trạm phát ở Hiroshima đã ngừng phát sóng. Anh ta cố gắng nối lại chương trình phát sóng ở đó bằng cách sử dụng đường điện thoại nhưng đều không thành công. Khoảng 20 phút sau trung tâm điện tín đường sắt Tokyo cũng nhận ra điện tín ngừng hoạt động kể từ phía bắc Hiroshima trở xuống. Từ những ga xép trong vòng 16 km ngoài Hiroshima tin tức không chính thức và nhầm lẫn về vụ nổ khủng khiếp ở Hiroshima truyền về. Tất cả các tin tức trên được truyền đến Bộ Tổng tham mưu quân đội Nhật.

Các đơn vị quân sự lặp lại cố gắng liên lạc với bộ phận quản lý quân đội ở Hiroshima. Sự im lặng tuyệt đối từ Hiroshima khiến các sĩ quan bối rối. Họ biết rằng không hề có một cuộc tập kích lớn nào cũng như không có lượng bom đạn đáng kể nào ở Hiroshima. Một sĩ quan trẻ của Bộ Tổng tham mưu được lệnh bay tới Hiroshima lập tức hạ cánh điều tra thiệt hại và trở về Tokyo với những tin tức đáng tin cậy. Ở Bổ Tổng tham mưu mọi người tin rằng không có gì nghiêm trọng xảy ra và những tin tức truyền về trước đó đều là tin đồn không chân thực.

Viên sĩ quan ra sân bay và cất cánh về phía tây nam. Sau 3 giờ bay khi còn cách Hiroshima 160 km anh ta và viên phi công trông thấy một đám mây cực lớn của vụ nổ. Trong buổi chiều trời còn sáng những phần chưa bị tàn phá của Hiroshima đang bốc cháy. Chiếc máy bay của họ nhanh chóng bay tới thành phố bay quanh nó với sự hoài nghi. Một vùng đất lớn hoang tàn vẫn đang cháy và bị che phủ bởi khói dày đặc đó là tất cả những gì còn sót lại. Họ hạ cánh xuống phía nam thành phố và viên sĩ quan tham mưu sau khi báo cáo về Tokyo bắt tay ngay vào tổ chức công tác cứu hộ.

Những hiểu biết đầu tiên của Tokyo về điều thực sự gây ra thảm họa ở Hiroshima là từ bản thông báo chính thức của Tòa Nhà Trắng 16 giờ sau khi xảy ra vụ ném bom Hiroshima.

hotinhtam

tiếp theo

Lựa chọn mục tiêu
Bộ phận lựa chọn mục tiêu ở trung tâm nghiên cứu Los Alamos trong hai ngày 10 và 11 tháng 5 năm 1945 đề xuất các mục tiêu là Kyoto Hiroshima Yokohama và một xưởng vũ khí tại Kokura. Bộ phận này từ chối việc sử dụng vũ khí nguyên tử chỉ bó hẹp ở mục tiêu quân sự bởi khả năng để lọt mục tiêu nhỏ không nằm giữa khu dân cư. Đối với ủy ban tác động tâm lý lên nước Nhật là rất quan trọng. Họ cũng thống nhất rằng việc sử dụng bom nguyên tử lần đầu cần phải kỳ vĩ bởi sự quan trọng của nó sẽ gây tiếng vang quốc tế. Bộ phận này lựa chọn Kyoto bởi đây là trung tâm văn hiến của Nhật Bản và có qui mô dân cư tốt hơn cả để đánh giá hiệu quả của vũ khí. Hiroshima được lựa chọn bởi đây là thành phố lớn là cơ sở hậu cần quân quan trọng và thành phố được bao bởi các ngọn đồi – giúp gây ra hiệu ứng hội tụ làm tăng sức hủy diện của quả bom.

Bộ trưởng chiến tranh Henry L. Stimson bất chấp chống đối của tướng Leslie Groves – trưởng dự án Manhattan gạt bỏ Kyoto khỏi danh sách bởi tầm quan trọng về mặt văn hóa của thành phố. Theo giáo sư Edwin O. Reischauer Stimson biết và hâm mộ Kyoto kể từ chuyến đi trăng mật của ông từ nhiều thập kỷ trước khi văn hóa ứng xử của thị dân nơi đây mang đến cho ông những cảm giác tốt đẹp không bao giờ mờ phai. Ngày 25 tháng 7 năm 1945 tướng không quân Carl Andrew Spaatz được chỉ thị ném bom một trong những mục tiêu: Hiroshima Kokura Niigata hoặc Nagasaki và các thành phố khác ngay sau ngày 3 tháng 8 khi thời tiết cho phép và các vũ khí nguyên tử bổ sung nữa sẵn sàng.

Hiroshima
Thành phố Hiroshima trong Đệ nhị thế chiến.
Tại thời điểm bị đánh bom Hiroshima là thành phố quan trọng cả về mặt quân sự và công nghiệp. Một số doanh trại quân sự đóng sát đó bao gồm sở chỉ huy sư đoàn số 5 sở chỉ huy tập đoàn quân số 2 của Thống chế Nhật Hata Shunroku – tư lệnh phòng thủ toàn phần nam Nhật Bản. Hiroshima là căn cứ hậu cần nhỏ của quân đội Nhật Bản. Thành phố là trung tâm liên lạc điểm tàng trữ và lắp ráp cho quân đội. Nó là một trong vài thành phố Nhật mà người Mỹ với ý đồ từ sớm chưa đánh bom tạo môi trường lý tưởng để kiểm định tính hủy diệt của vũ khí nguyên tử. Một lý do nữa cho việc lựa chọn Hiroshima là tướng Spaatz báo cáo rằng đây là thành phố không có tù binh chiến tranh. Với những lý do trên Washington quyết định đây là mục tiêu số một.

Trung tâm thành phố có vài công trình bằng bê tông và các cấu trúc yếu hơn. Ngoài phạm vi trung tâm là khu vực dày đặc các cửa hiệu nhà ở bằng gỗ. Số lượng nhỏ nhà máy công nghiệp nằm ở ngoại ô thành phố. Những ngôi nhà ở đây bằng gỗ mái dốc và rất nhiều nhà xưởng công nghiệp có khung gỗ. Toàn bộ thành phố rất dễ bị tàn phá bằng lửa.

Đầu chiến tranh dân số Hiroshima có lúc lên đến 381.000 người tuy vậy cho đến trước khi bị ném bom số dân đã giảm rất nhiều bởi lệnh sơ tán của chính phủ. Lúc quả bom nguyên tử được ném xuống ước chừng 255.000 người trong thành phố. Con số này dựa trên số dân đăng ký cư trú cộng với ước đoán lượng công nhân bổ sung và quân đội.

hotinhtam

Vụ nổ bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagashaki

Khởi đầu
Hoa Kỳ với sự hỗ trợ của Anh và Canada đã thiết kế và chế tạo những quả bom nguyên tử đầu tiên trong dự án Manhattan. Dự án ban đầu được khởi động bởi những nhà khoa học đến từ Châu Âu (có cả Albert Einstein) và các nhà khoa học Hoa Kỳ những người lo ngại nước Đức phát-xít cũng tiến hành chương trình phát triển vũ khí nguyên tử (chương trình sau này được biết là có tồn tại nhưng với quy mô nhỏ hơn rất nhiều và tiến độ bị người Mỹ bỏ xa). Riêng dự án thu hút tổng cộng 130.000 người từ hơn 30 tổ chức trên khắp nước Mỹ ở thời điểm sôi động nhất và tiêu tốn tổng cộng 2 tỷ đô la Mỹ thời đó là một trong những dự án nghiên cứu phát triển vĩ đại nhất và tốn kém nhất của mọi thời đại.

Quả bom đầu tiên "Gadget"
Khối cầu lửa vụ thử nguyên tử "Trinity"Quả bom đầu tiên mang tên "Gadget" được kích nổ trong chương trình thử nghiệm "Trinity" gần Alamogordo bang New Mexico ngày 16 tháng 7 năm 1945. Các quả bom thả xuống Hiroshima và Nagasaki là những quả thứ hai và thứ ba được thế tạo và cho đến nay chúng vẫn là những vũ khí hạt nhân duy nhất được đưa ra sử dụng.

Trong Thế chiến thứ hai hai phe tham chiến đều theo đuổi chính sách ném bom chiến lược và nhằm vào cơ sở hạ tầng dân sự. Trong rất nhiều trường hợp ném bom chiến lược cướp đi sinh mạng của vô số dân thường và gây nhiều tranh cãi. Tại Đức cuộc tập kích hàng không chiến lược của phe Đồng Minh vào thành phố Dresden gây hậu quả là 30.000 người thiệt mạng. Theo cơ quan Lịch sử chiến tranh Nhật Bản các cuộc ném bom thành phố Tokyo tháng 3 năm 1945 làm 72.489 người chết. Đến tháng 8 năm 1945 khoảng 60 thành phố của Nhật đã bị tàn phá trong chiến dịch ném bom ồ ạt. Tokyo và Kobe cũng hứng chịu các cuộc tập kích bằng bom ồ ạt này.

Trong hơn ba năm rưỡi tham chiến trực tiếp ở Chiến tranh thế giới thứ hai có khoảng 400.000 người Mỹ thiệt mạng. Khoảng một nửa số đó là trong chiến tranh với nước Nhật. Cho đến trước hai vụ đánh bom nguyên tử trận đánh chiếm đảo Okinawa dẫn đến cái chết của 50 ngàn đến 150 ngàn thường dân 100 ngàn đến 125 ngàn binh sĩ Nhật. Thương vong phía Hoa Kỳ là 72.000. Con số khác đưa là là 107.539 người chết cộng với 23.764 chết trong các hang kín và được chôn cất bởi phía Nhật. Vì con số trên vượt quá số lượng quân Nhật trên đảo phía tình báo quân sự cho rằng có khoảng 42.000 tử vong là dân thường. Lý do phổ biến cho việc ném bom nguyên tử vào Nhật Bản là việc xâm lược các đảo chính của Nhật sẽ khiến thương vong gấp nhiều lần con số thiệt hại ở Okinawa.

Tổng thống tạm quyền Harry S. Truman không hề biết dự án Manhattan cho đến khi Franklin D. Roosevelt qua đời. Truman đề nghị Bộ trưởng chiến tranh Hoa Kỳ lúc đó là Henry L. Stimson chủ trì một nhóm các nhân viên xuất sắc gọi là Ủy ban Nội chính bao gồm cả các nhà khoa học uy tín để cố vấn cho Tổng thống các vấn đề quân sự chính trị và khoa học phát sinh từ việc sử dụng bom nguyên tử. Ngày 31 tháng 5 Stimson đệ trình các kết luận của ông ta trước Ủy ban này và nhóm khoa học của Ủy ban. Stimson ủng hộ việc sử dụng bom nguyên tử "nhiệm vụ của chúng ta là kết thúc chiến tranh nhanh chóng và có lợi". Nhưng tiến sĩ Robert Oppenheimer thành viên của nhóm khoa học tuyên bố rằng một quả bom đó thôi cũng có thể giết tới 20 ngàn sinh mạng và nên hướng vào mục tiêu quân sự chứ không phải dân sự. Một nhà khoa học khác Tiến sĩ Arthur Compton đề nghị rằng nên thả quả bom vào một một hòn đảo hoang vu của Nhật Bản để thị uy đồng thời giảm thiểu thiệt hại sinh mạng thường dân. Nhưng lời đề nghị này sớm bị từ chối với lý lẽ rằng nếu phía Nhật biết trước về cuộc tấn công máy bay ném bom sẽ bị bắn hạ hoặc quả bom đầu tiên có thể không phát nổ.

Đầu tháng 7 trên đường đi dự Hội nghị Potsdam Truman xem xét một lần nữa quyết định sử dụng bom nguyên tử. Cuối cùng ông ra quyết định thả bom nước Nhật. Ông tuyên bố ý định của việc yêu cầu đánh bom là để nhanh chóng mang lại giải pháp cho chiến tranh bằng cách gây ra sự tàn phá và gieo rắc kinh hoàng về những thiệt hại tiếp theo điều đó đủ làm cho Nhật Bản chấp nhận đầu hàng.

Ngày 26 tháng 7 Truman và các lãnh tụ phe Đồng minh ra bản Tuyên bố Potsdam vạch ra điều kiện đầu hàng cho nước Nhật:

"Chúng tôi kêu gọi chính phủ Nhật Bản ra tuyên bố đầu hàng vô điều kiện ngay lập tức cho toàn bộ lực lượng vũ trang Nhật và đưa ra sự đảm bảo thích đáng và đầy đủ đối với thiện ý của họ trong hành động như vậy. Sự lựa chọn khác cho Nhật Bản là sự hủy diệt toàn bộ ngay lập tức."
Ngày hôm sau các báo chí Nhật nêu rằng bản tuyên bố văn bản được truyền bá và trong những tờ truyền đơn thả xuống Nhật bản đều bị từ chối. Những quả bom nguyên tử vẫn được giữ bí mật và không hề đả động trong bản tuyên bố. Chính phủ Nhật Bản không thể hiện ý định chấp nhận tối hậu thư. Thủ tướng Nhật Suzuki Kantaro còn phát biểu tại họp báo rằng Tuyên bố Potsdam chỉ là sự lặp lại của Tuyên bố Cairo và chính phủ của ông không quan tâm đến nó.

Nhật hoàng Hirohito người đang chờ đợi Liên Xô trả lời những thăm dò về hòa bình đã không có bất kỳ thay đổi lập trường của chính phủ. Ngày 31 tháng 7 ông tuyên bố rõ ràng rằng quyền lực của hoàng đế phải được bảo vệ bằng mọi giá.

hotinhtam

Vụ ném bom nguyên tử Hiroshima và Nagasaki

Vụ ném bom nguyên tử Hiroshima và Nagasaki là sự kiện hai quả bom nguyên tử được Quân đội Hoa Kỳ theo lệnh của Tổng thống Harry S Truman sử dụng trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai vào những ngày gần cuối của Đệ nhị thế chiến tại Nhật Bản. Ngày 6 tháng 8 năm 1945 quả bom nguyên tử thứ nhất mang tên "Little Boy" đã được thả xuống thành phố Hiroshima Nhật Bản. Sau đó 3 hôm ngày 9 tháng 8 năm 1945 quả bom thứ hai mang tên "Fat Man" đã phát nổ trên bầu trời thành phố Nagasaki.
Có nhiều nguyên nhân khiến con số chính xác người thiệt mạng không thống nhất. Các số liệu khác nhau bởi được thống kê vào các thời điểm khác nhau. Rất nhiều nạn nhân chết sau nhiều tháng thậm chí nhiều năm bởi hậu quả của phóng xạ. Cũng có những áp lực làm con số bị phóng đại hoặc giảm thiểu vì lý do tuyên truyền chính trị. Theo ước tính 140.000 người dân Hiroshima đã chết bởi vụ nổ cũng như bởi hậu quả của nó. Số người thiệt mạng ở Nagasaki là 74.000. Ở cả hai thành phố phần lớn người chết là thường dân.
Vai trò của hai vụ nổ đối với việc nước Nhật đầu hàng cũng như hậu quả và các giải thích cho việc thả bom vẫn là chủ đề còn bàn cãi. Ở Mỹ quan điểm đa số cho rằng hai quả bom đã chấm dứt chiến tranh sớm hơn nhiều tháng và hạn chế thiệt hại sinh mạng các bên tham chiến. Với nước Nhật dư luận cho rằng chúng là không cần thiết và hành vi chống lại dân thường là vô đạo đức.
Ngày 15 tháng 8 năm 1945 Đế quốc Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện Khối Đồng minh và ký vào văn kiện đầu hàng ngày 2 tháng 9 năm 1945 chính thức chấm dứt Thế chiến thứ hai.

hotinhtam

vũ khí hủy diệt lớn

Vũ khí hủy diệt hàng loạt (tiếng Anh: Weapon of mass destruction gọi tắt là WMD) là loại vũ khí có khả năng gây cho đối phương tổn thất rất lớn về sinh lực phương tiện kỹ thuật cơ sở kinh tế quốc phòng môi trường sinh thái có tác động mạnh đến tâm lý-tinh thần. Nhìn chung đó là thuật ngữ để chỉ các vũ khí hạt nhân sinh học hóa học và phóng xạ. Thuật ngữ này nảy sinh từ năm 1937 khi báo chí đề cập đến vụ ném bom thảm sát tại Guernica[1] Tây Ban Nha. Sau Vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki tại Nhật Bản cũng như những diễn tiến suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh nó ngày càng được dùng phổ biến để chỉ những thứ vũ khí phi quy ước. Đồng nghĩa với thuật ngữ WMD người ta còn sử dụng các thuật ngữ như "Vũ khí nguyên tử sinh học và hóa học" (ABC) "Vũ khí hạt nhân sinh học và hóa học" (NBC) và "Vũ khí hóa học sinh học phóng xạ và hạt nhân" (CBRN) mặc dù trong số này vũ khí hạt nhân vẫn được coi là có tiềm năng lớn nhất trong hủy diệt hàng loạt. Lối nói này được sử dụng rộng rãi trong mối liên quan tới chiến tranh Iraq năm 2003 do Mỹ đứng đầu.
Có thể nói vũ khí hạt nhân cũng như vũ khí phóng xạ là hệ quả trực tiếp của cuộc Cách mạng khoa học-kỹ thuật cái đã giúp loài người chinh phục được nguồn năng lượng lớn chưa từng có. Vì thế chúng được xếp vào thế hệ vũ khí thứ 5 tức là còn hiện đại hơn những vũ khí tự động (liên thanh} ra đời cuối thế kỷ 19.
Nhìn chung các vũ khí hủy diệt hàng loạt đều mang đặc tính hủy diệt lớn không lựa chọn. Do tác động hủy diệt không lựa chọn nên chính mối lo sợ vũ khí WMD đã có tác động định hình các chính sách và các hoạt động chính trị thúc đẩy các phong trào xã hội. Thái độ ủng hộ hoạt động phát triển hoặc ngược lại kiểm soát vũ khí WMD là khác biệt nhau trên bình diện quốc gia cũng như quốc tế . Song nhìn chung người ta chưa hiểu rõ bản chất của những mối đe dọa này một phần bởi vì thuật ngữ bị chính giới và giới truyền thông trên thế giới sử dụng một cách không chính xác.
Phòng chống vũ khí hủy diệt hàng loạt là một nội dung được chú ý trong lĩnh vực quân sự hiện nay khi mà trình độ khoa học công nghệ về vũ khí đã đạt đến trình độ cao.

hotinhtam

gởi lớp trưởng các lớp 35 GDTH 35 AN.a 35AV.b

Theo tinh thần thầy đã triển khai các em nhớ đôn đốc lớp thực hiện bằng cách sưu tầm tài liệu qua sách vở báo chí hoặc qua mạng internet để kịp hoàn thành vào sáng thứ hai tuần sau- 7.3.2011.
Các em lớp trưởng phải chịu trách nhiệm chung trước lớp và trước Ban chỉ đạo đợt huấn luyện quân sự phổ thông của nhà trường.

Chúc các em thành công đúng kế hoạch!