vũ khí hóa học- bài giảng của hotinhtam

Vũ khí hóa học
hotinhtam biên soạn

 

Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam đế qốc Mỹ đã sử dụng hàng trăm tấn chất độc hóa học hủy diệt môi sinh làm nhiễm độc nhiều người gay hậu qủa hàng chục năm chưa khắc phục xong.

Trong chiến tranh Iran – Irac Irac đã sử dụng vũ khí hóa học chủ yếu là chất độc Yperit va Tabun làm cho phía Iran bị chết và bị thương hơn 50.000 binh lính và nhiều dân thường chủ yếu là phụ nữ và trẻ em.

Mấy năm gần đây một số sự cố về chất độc hóa học xãy ra trong lĩnh vực kinh tế đã gây ra những hậu qủa nghiêm trọng như:

Tháng 12 – 1984 khí Methylsocyarate tại nhà máy sản xuất thuốc diệt cỏ tại Bho Pai Ấn Độ bị rò rỉ đã giết chết 2.500 người làm 10.000 người bị nhiễm độc nặng 180.000 người bị nhiễm độc nhẹ.

Vitimas do Acidente nuclear de Chernobyl. Nuclear accident


 

I – VŨ KHÍ HÓA HỌC

 

Vũ khí hóa học thuộc nhóm vũ khí hủy diệt lớn là loại vũ khí mà khi sử dung sẽ gây sát thương cho nhiều người trong một khoảng thời gian ngắn và phạm vi rộng lớn.

 

                                            Vũ khí hủy diệt lớn gồm có:

 


                             - Vũ khí nguyên tử

                             - Vũ khí hóa học

- Vũ khí sinh học

- Vũ khí cháy


 

1 – khái niệm phân loại chất độc và phương tiện sử dụng.

 

a/ Khái niệm:

vũ khí hóa học là vũ khí dùng chất độc hóa học để sát thương sinh vật hoặc làm cản trở các hoạt động của đối phương.

 

b/ Đặc tính phân loại chất độc hóa học:

tùy theo phương tiện sử dụng chất độc hóa học có thể ở các dạng lỏng bột hơi khói hoặc sương. Chất độc hóa học gây tác hại đối với người bằng nhiều đường khác nhau nhưng nói chung bằng ba con đường chính:

- Qua đường hô hấp:

Không khí bi nhiễm chất độc đi thẳng vào phổi vào máu đó là cách trúng độc nhanh nhất nguy hiểm nhất.

 - Qua đường tiêu hóa:

Người động vật ăn phải thức ăn hoặc uống nước nhiễm độc đều bị ngộ độc.

- Qua da:

Chất độc rơi trong không khí người và động vật tiếp xúc phải chất độc đều bị ngộ độc qua da vào máu gây ra tác hại.

 

C/ Phân loại chất độc:

Căn cứ vào những đặc tính tác hại trên cơ thể người có thể phân ra các loại như sau:

 


- Chất độc hại chung: Acid Cianhydric Ta bun Sarin Soman các chất thuộc nhóm V

- Chất độc hại da: Yperit Lewisit

- Chất độc hại phổi: Phosghen

- Chất độc hại tâm thần: LSD

- Chất độc kích thích: Adamsit


 

Ngoài ra còn một số chất độc diệt cây phát quang mà Mỹ đã sử dụng ở Miền Nam Việt nam. Một số loại thuốc sâu trong nông nghiệp cũng có độc tính cao như: Vô pha tốc Ti ô phốt Bát sa Ba su đin…

Chất độc hại chung hay chất độc toàn thân là quan trọng nhất có tính độc hại mạnh nhất trong tất cả các chất độc mà ta đã biết tác động sát thương nhanh và rất nguy hiểm.

Ví dụ:

Sarin là chất độc hại chung chất này có tác dụng kìm hãm các enzym quan trọng trong hệ thần kinh sinh vật cao cấp. Với nồng độ 20mg/m3 không khí chỉ trong vài phút có thể gây ngộ độc nhẹ đối với người.

Điểm đặc biệt của Sarin là đám mây độc lan truyền nhanh khi thời tiết thuận lợi ở cự ly trên 15 Km cách khu vực nổ của bom chất độc.

Chất V  thuộc nhóm các chất độc hại chung có tác dụng đến sinh lý hệ thần kinh. So với Sarin nó khác ở chỗ tác động mạnh vào hệ thần kinh trung ương do đó chỉ cần một lượng nhỏ cũng cũng đủ gây chết người nhất là khi chúng rơi vào da. Chất độc V thường làm ngộ độc nguồn nước. Phương tiện mang chất độc V thường là bom lựu đạn.

Yperit thuộc nhóm độc hại da thời gian gây ngộ độc dài có khả năng xâm nhập sâu vào các chất xốp. Loại này có thể sử dụng ngay cả khi nhiệt độ thấp.

LSD là chất độc tâm thần. với một lượng nhỏ LSD cũng có thể gây nên những thay đổi về tâm thần gây rối loạn thần kinh chức năng hoảng sợ hoang tưởng… LSD không làm chết người nhưng làm đối phương mất khả năng chiến đấu.

 

d/ Các loại phương tiện sử dụng chất độc:

để sử dụng vào mục đích quân sự đối phương thương nhồi chất độc vào bom mìn đạn pháo đạn cối lựu đạn dùng máy bay phun rải. Ngoài ra còn dùng bao gói thả vào nguồn nước và thức ăn để đầu độc.

 

2 – Đặc điểm chiến đấu của vũ khí hóa học.

 

a/ Tác dụng sát thương chủ yếu:

- Vũ khí hóa học gây sát thương đối với người động vật chủ yếu bằng chất độc; khi xâm nhập vào cơ thể gây ra phản ứng hóa học giữa chất độc với một số chất trong cơ thể hủy hoại tế bào dẫn tới những triệu chứng trúng độc khác nhau làm tổn thương các bộ phận của cơ thể từ đó tác động đến toàn thân.

- Vũ khí hóa học chỉ gây sát thương sinh lực không phá hoại vật chất trang bị kỹ thuật và các công trinh kiến trúc nhà cửa.

 

b/ Phạm vi sát thương của vũ khí hóa học:

- Rộng hơn vũ khí thường. Sau khi được sử dụng chất độc hòa trộn vào không khí lan truyền theo chiều gió với chiều sâu hàng chục mét đến hàng chục ki lô mét. Ngoài ra khói độc còn có thể lọt qua các khe kẽ công sự nhà cửa gây nguy hại đối với người ở bên trong.

- Nếu chất độc hóa học thả vào nguồn nước thì nó sẽ trôi theo nước và truyền lan đi xa hơn do đó các làng bản nhà máy xý nghiệp gần sông suối thấy hiện tượng tôm cá và cua chết nhiều thì cần phải cảnh giác đề phòng.

 

c/ Thời gian gây tác hại:

tùy thuộc vào phương pháp sử dụng loại chất độc điều kiện thời tiết… mà thời gian gây tác hại đối với các đối tượng có thể từ vài phúut tới vài ngày hoặc lâu hơn nữa.

 

d/ Ảnh hưởng của địa hình thời tiết với chất độc hóa học:

Thời tiết và địa hình có ảnh hưởng nhiều đến tính năng chiến đấu của vũ khí hóa học.

Thời gian gây tác hại của chất độc phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ mưa gió. Nhiệt độ cao dễ tạo nồng độ lan truyền chất độc nhưng thời gian tác hại ngắn và ngược lại. Mưa to gió lớn làm chất độc bị tỏa tán trôi chảy nhanh làm giảm nồng độ và mật độ tác hại của chất độc.

Địa hình trống trải chất độc lan truyền dễ dàng nên phạm vi tác hại rộng; trái lại nơi thung lũng rừng núi làng mạc… phạm vi tác hại hẹp nhưng thời gian tác hại lại kéo dài.

 

3 – Tính chất tác hại của một số loại chất độc quân sự.

 

Bảng tóm tắt đặc điểm triệu chứng trúng độc và cách phòng chống

 

Loại chất độc

Đặc điểm

Triệu chứng trúng độc

Cách phòng chống

Chất độc thần kinh

Thể long không màu không mùi. Tính độc rất cao tác dụng gây chết người trong vài phút. Ký hiệu trên bom đạn 3 vòng xanh va chữ VX GA GAS

Con ngươi mắt thu nhỏ khó thở chảy nước dải đi không vững co giật dẫn đến tê liệt toàn thân mà chết.

Đeo khẩu trang mặc áo nilon. Tiêm thuốc Atropin

Chất độc loét da- Yperit

Thể lỏng không màu mùi tỏi. Sử dụng ở thể sương gioọt lỏng. Tính độc tương đối cao tác dụng chậm có thời gian ủ bệnh gây chết hoặc suy nhược kéo dài. Ký hiệu trên bom đạn 2 vòng sơn xanh và chữ HD- GAS

Da ủ bệnh 4 đến 6 giờ sau đó bị tấy đỏ rồi rộp phồng chuyển sang loét da. Sau 20 đến 30 ngay sẽ khỏi để lại vết sẹo. Rất dễ trúng độc toàn thân hoặc nhiễm trùng mà chết làm tổn thương mắt phổi đường tiêu hóa.

Đeo khẩu trang mặc áo nilon. Tiêu độc bằng thuốc tím pha loãng tỉ lệ 1%. Nước xà phòng nước voôi trong thấm bằng bông băng giẻ sạch.

Chất độc ngạt thở- Phốt gien Clo…

Thể lỏng không màu mùi hoa qủa thối. Sử dụng ở thể hơi. Tính độc tương đối cao có thời gian ủ bệnh gây chết sau vài đêm. Ký hiệu 1 vòng sơn xanh và chữ CG – GAS

Thấy vị ngọt ở miệng ho khó thở mệt mỏi buồn nôn. Ủ bệnh 2 đến 4 giờ sau đó có thể suy nhược. Ho ra đờm nhiều có lẫn máu da tái nhợt ngạt khó thở.

Đeo khẩu trang. Đưa ra khoỏi khu nhiễm. Đưa đi viện chữa phổi(không hô hấp nhân tạo)

Chất độc kích thích- CS

Thể bột màu trắng mùi cay. Sử dụng ở thể khói- riêng CS còn ở thể bột. Có tính kích thích mạnh và tổng hợp gây suy yếu tạm thời. Ký hiệu trên bom đạn 1 đến 2 vòng sơn đỏ và chữ CS – RCOT CN – RIOT

Chảy nước mắt ho hắt hơi sổ mũi tức ngực khó thở riêng. CS còn kích thích mạnh đối với da làm nóng rát buồn nôn và nôn

Đeo khẩu trang. Rửa sạch mặt mũi bằng nước sạch.

 

4 – Thực hành phòng tránh vũ khí hóa học và cách sử dụng khí tài ứng dụng

 

a/ Quan sát đơn giản

Cần phát hiện sớm chất độc chất cháy đề phòng kịp thời vì d0ặc điểm tác hại của chất độc chất cháy phạm vi rộng có thể gây nhiễm độc cho nhiều người. Vì vậy ngoài việc quan sát của bộ đội của các lực lượng chuyên moôn mọi người phải biết quan sát để kịp thời thông báo kiểm tra. Chủ yếu bằng mắt thường khi địch sử dụng chất độc mà không dùng vũ khí.

- Nhìn thấy sông suối hồ ao cá chết nhiều.

- Các côn trùng động vật như ếch nhái chim chuột chết nhiều.

- Các kho tàng nhà cửa tự bốc khói bốc cháy. khi đã quan sát thấy thì phải báo cho các lực lượng chuyên môn đến kiểm tra hướng dẫn đề phòng.

 

b/ Thực hành đề phòng và cách sử dụng khí tài ứng dụng

- Khí tài phòng hô hấp:

+ Khẩu trang khăn mặt bông vải sạch gấp nhiều lớp để che miệng mũi.

+Miếng nilon trắng rộng 7 Cm – 8 Cm dài 80 Cm – 100 Cm túi nilon che mắt hoặc chụp lên đầu.

- Khí tài phòng da:

+Nilon che mưa áo mưa miếng vải bạt rộng để mặc vào người.

+Tùy tình hình từng địa phương dáng vóc người to nhỏ vật liệu hiện có để chuẩn bị vật chất cho phù hợp.

- Động tác mặc khí tài:

+ Mục đích: Nhằm huấn luyệ cho sinh viên nắm vững các động tác cơ bản và sử dụng thành thạo các loại khí tài chế sẵn.

+ Nguyên tắc yêu cầu:

+ Tìm mọi cách ngăn chặn chất độc xâm nhập vào cơ thể bằng bất kỳ con đường nào.

+ Chuẩn bị đầy đủ các loại khí tài.

+ Động tác nhanh chóng kịp thời chính xác.

- Động tác đeo khí tài đề phòng hô hấp:

+ Khi đuợc thông báo địch sử dụng vũ khí hóa học thì thứ tự động tác như sau:

*Buộc băng nilon che cho mắt cách cuốn nilon như động tác băng bó vết thương làm sao cho kín hai mắt mà vẫn nhìn thấy được.

*Đeo khẩu trang hoặc buộc khăn mặt miếng vải trùm kín miệng mũi.

-Thực hành tiêu tẩy sơ bộ cho người khi bị nhiễm chất độc:

Căn cứ tình hình cụ thể khi bị nhiễm độc ít hay nhiều để tự tiêu tẩy cho mình nơi bị bám dính chất độc.

 

Giới thiệu một số loại dung dịch có thể làm được để tiêu độc

 

Tên vật chất

 Tác dụng

 Pha chế sử dụng

Giẻ bông giấy

Thấm hút các chất độc thể lỏng lau chùi các hất độc thể bột

Dung dịch nước xà phòng 1%(1 bánh xà phòng 250 gm pha 25 lít nước) dùng để rửa giặt quần áo bị nhiễm độc.

Dung dịch nước xà phòng 0 1 đến 0 2%(bánh xà phòng 250 gm pha với 125 hay 250 lít nước) dùng nấu quần áo vải dụng cụ bị nhiễm chất độc thần kinh.

Nước sạch

Dùng tẩy rửa chất độc dính trên da trên các dụng cụ.

 

Xăng dầu hỏa rượu

Dùng tẩy rửa chất độc

 

NaOH(xút)

Tiêu độc chất CS thần kinh

NaOH 10%(100gm pha với 1 lít nước tiêu độc cho đồ dùng.

Nước vôi

Tiêu độc chất độc thần kinh(kém NaOH)

Pha tỉ lệ 1/5 lấy nước trong hay trắng đục tiêu độc cho da quần áo đồ dùng.

Nước tro

Giống nướ vôi

Pha tỉ lệ 1/1 đến 1/2 lấy nước sử dụng như trên

Thuốc tím

 Tiêu độc chất độc thần kinh loét da nhưng tác dụng yếu

Pha tỉ lệ 1 đến 2% tiêu độc da quần áo rửa đắp vết thương.

 

Động tác tiêu tẩy sơ bộ bằng dung dịch chế sẵn:

- Khi người bị bám dính hoặc hít thở phải chất độc thì thứ tự làm như sau:

Dùng bi đông nước(chai nước) súc miệng rửa mặt mũi(chú ý nước sạch). Đổ nước ra nắp hoặc rót trưc tiếp từng ngụm vào miệng súc 2 đến 3 lần.

Rửa mặt: Mở nắp bi đông chai nước điều chỉnh cho tia nước chảy ra đều mặt nghiêng về phía trái hoặc phải đưa bi đông hoặc chai nước lên rót vào mặt và mở mắt chớp liên tục để nước cuốn trôi chất độc đi.

Rửa mũi: ửa tay sạch đổ nước ra lòng bàn tay hít nước sâu vào trong lỗ mũi và xì ra nhiều lần; cũng có thể dùng quue nhỏ cuốn bông vải sạch thấm nước rửa mũi.

Tiêu độc cho da:

Với chất độc thể bột phải dùng vải lau sạch chỗ bị bám chất độc tắ rửa với xà phòng.

 Với chất độc thể lỏng dùng giẻ bông sạch dùng giấy thấm nhanh giọt chất độc sau đó dùng bông giẻ thấm xà phòng thuốc tím rửa nhiều lần.

Tiêu độc cho quần áo:

Với chất độc thể bột phủi sạch sau đó giặt xà phòng.

Với thể lỏng nếu bị một vài giọt dùng các chất tiêu độc như nước xà phòng ií«t thuốc tím lau rửa nhiều lần. Truờng hợp dính nhiều với chất độc có độc tính cao thì cắt bỏ hoặc thay quần áo khác. Nếu bị nhiễm độc nặng sau khi tiêu độc sơ bộ cần chuyển ngay đến các trạm tiêu độc chuyên môn của y tế và bộ đội.

 

II – VŨ KHÍ CHÁY

 

1 – Khái niệm phân loại chất cháy phương tiện vũ khí sử dụng.

a/ Khái niệm:

Vũ khí cháy là loại vũ khí tác dụng sát thương phá hoại dựa trên cơ sở sử dụng năng lượng của chất cháy có nhiệt độ cao và ngọn lửa mạnh khi cháy tạo nên dùng để sát thương sinh lực thiêu hủy vũ khí trang bị công trình kho tàng nhà cửa.

 

b/ Phân loại chất cháy:

Có nhiều cách khác nhau nhưng thường thì chia làm 3 loại chính:

Chất cháy là sản phẩm của dầu hỏa như xăng napan.

Chất cháy kim loại nhẹ và hợp kim như Na-tri Tec-mít…

Chất cháy Phốt pho.

 

c/ Phương tiện sử dụng:

Các chất cháy được nạp trong đạn bom mìn thùng lựu đạn súng phun lửa.

 

2 – Đặc điểm tác hại của một số loại vũ khí cháy.

a/ Na pan:

Là hỗn hợp xăng và bột ở dạng dầu keo có màu vàng nâu hoặc hồng nhẹ hơn nước nên cháy trên mặt nước. Na pan dễ bốc cháy nhiệt độ cháy đạt từ 1.000 2.0000C thời gian gây cháy ban đầu từ 5 đến 10 phút ngọn lửa màu vàng tỏa khói đen dày đặc.

 

b/ Téc mít:

Gồm hỗn hợp ô xít sắt bột nhôm ma nhê và các chất phụ khác. Khi cháy không cần ô xy của không khí nhiệt độ cháy đạt 2.2000C thời gian gây cháy ban đầu khỏang 10 phút cháy rất mạnh ngọn lửa sáng chói không có khói.

 

c/ Phốt pho trắng:

Thể rắn màu vàng nhạt mùi khét tự bốc cháy trong không khí khi cháy đạt nhiệt độ 1.3000C ngọn lửa màu sáng xanh có khó trắng dày đặc hơi và khói phốt pho đều độc do tỏa tán nhiều khói nên phốt pho trắng được coi như một chất độc bốc cháy bốc khói.

Nếu đem trộn phốt pho hỗn hợp với dung dịch cao su tổng hợp sẽ tạo thành phốt pho trắng dẻo cũng là loại chất cháy đang được dùng thông dụng.

 

3 – Biện pháp phòng chống vũ khí cháy.

a/ Phòng cháy:

Muốn hạn chế tác hại do cháy gây ra phải thực hiện tốt việc chuẩn bị dụng cụ dập cháy như bình bọt xẻng câu liêm bao tải được đánh dấu sắp xếp có thứ tự dễ kiểm tra sử dụng.

Trong chiến tranh cũng như thời bình mọi người phải chuẩn bị chủ động phòng cháy. Nếu địch sử dụng vũ khí cháy ai quan sát thấy phải nhanh chóng thông báo để moọoi người biết. Tổ chức chữa cháy phải gọn đủ sức dập tắt vụ cháy theo khí tài đã chuẩn bị.

Không tùy tiện sử dụng các chất dễ cháy tránh nhiệt độ cao. Sắp đặt ngăn nắp trật tự để tránh được cháy nổ.

 

b/ Nguyên tắc dập cháy và cấp cứu khi bị bỏng:

Nguyên tắc:

Chuẩn bị dụng cụ đầy đủ chu đáo và thường xuyên.

Dập cháy bình tỉnh dũng cảm khẩn trương và vận dụng cách dập cháy đối với từng loại chất cháy.

Biết ngăn cách loại chất cháy gần ô xy và đổ nước cát dập các đám cháy khác.

Trước tiên phải tập trung cứu chữa người đám cháy quan trọng nguy hiểm nhất rồi dần dập tắt các chỗ cháy khác.

Cấp cứu sơ bộ khi bị bỏng:

Khi da bị bỏng nhanh chóng dùng nước sạch rửa vết bỏng rồi dùng bông băng hoặc vải sạch thấm nước băng lại.

Khi phốt pho dính trên da thì nhúng chỗ bị cháy xuống nước dùng que cuốn băng hoặc vải gạt hết phốt pho dính trên vết bỏng để tránh hiện tượng cháy ngầm.

 

Có điều kiện sau khi rửa sạch các vết bỏng dùng thuốc mỡ kháng sinh bôi nhẹ lên vết bỏng.

Chú ý: Bỏng phốt pho thì không dùng thuốc mỡ vì phốt pho lặn trong mỡ dễ bị nhiễm độc nặng. Có thể dùng phèn xanh(sun phát đồng) thấm dung dịch phèn xanh pha tỉ lệ 2(20 gm 1 lít nước) để dập tắt sau đó chuyển đi bệnh viện.

 

4 – Thực hành dập cháy cho người trang bị cháy

a/ Giới thệu một số dụng cụ dập cháy ứng dụng:

bao tải tấm chăn chiên   mảnh vải to nhúng nước để trùm lên ngươi hoặc trang bị.

Xẻng gàu chậu bao cát đất bột để lấp hoặc múc nước.

Ngoài ra còn có bình bọt khí CO­­2 chế sẵn nếu có.

b/ Động tác dập cháy nhỏ trên người:

khi người bị cháy một chỗ hoặc nhiều chỗ phải quan sát và quyết định dập chỗ cháy nào trước chỗ nào sau theo động tác như sau:

Nhanh chóng cởi áo quần đang bị cháy có thể dứt mạnh cho đứt cúc.

Hoặc làm động tác lăn ép chỗ cháy xuốngt đất hay xuống cát.

Hoặc dùng chăn chiên vải bạt bao tải nhúng nước trùm lên chỗ cháy. Nếu ở ngay đó có ao hồ sông suối thì có thể nhảy hoặc nhúng thân thể xuống nước.

c/ Động tác dập cháy cho trang bị:

Trường hợp nơi học tập công tác và gia đình xảy ra các vụ cháy trang bị thì làm các động tác như sau:

Nhanh chóng lấy chăn chiên bao tải nhúng nước trùm ngay lên chỗ cháy.

Dùng gàu chậu đổ nước vào chỗ cháy.

Bốc đất cát phủ lên trang bị đang cháy.

Dùng xẻng cuốc xúc đất cát dập lên chỗ bị cháy.

 

III – KẾT LUẬN:

 

Vũ khí hóa học vũ khí cháy là những vũ khí có tác dụng sát thương người động vật nhanh và nguy hiểm hơn so với vũ khí thông thường.

Do đó học tập và thực hành luyện tập là cần thiết đối với mọi ngươi mọi đối tượng để phòng và tránh kịp thời và có hiệu qủa nhất biết áp dụng vào cuộc sống thực tế hàng ngày của bản thân và của xã hội.

HTT

Kaylynn

You're on top of the

You're on top of the game. Thanks for shignar.

hotinhtam

vũ khí sinh- hóa được sử dụng từ bao giờ

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nếu không kể hình thức dùng mũi tên tẩm thuốc độc vẫn được sử dụng liên tục trong lịch sử lần đầu tiên vũ khí hóa học được sử dụng trên quy mô lớn vào ngày 22/4/1915 ở gần Ypres (Bỉ) trong cuộc chiến giữa Đức và Pháp.

Vào ngày này quân đội Đức quyết định sử dụng khí clo mà chỉ duy nhất nước này có để kéo binh lính Pháp đang án binh bất động trong các đường hầm ra ngoài và chặn đường tiếp tế đạn dược của họ. 180 tấn khí clo đựng trong 5.730 bình khí nén đã được thả vào không khí về phía chiến tuyến của đối phương. Kết quả là 15.000 binh lính Pháp Algeria và Canada đã tử trận.

Trong bản dự thảo báo cáo về vũ khí sinh hóa học WHO gọi đó là kinh nghiệm toàn cầu đầu tiên về vũ khí hủy hoại hàng loạt.

Khí mù tạt và khí sarin

Vào năm 1917 lần đầu tiên "khí mù tạt" được đưa vào sử dụng. Nó có thể gây phồng rộp bên trong và bên ngoài cơ thể dẫn tới tử vong. Lúc đầu khí mù tạt được bắn ra bằng đạn súng cối sau đó được rải bằng máy bay. Sau này khí mù tạt liên tiếp được sử dụng tại nhiều nước:

- 1919: Tại Nga.

- 1923-1926: Tại Maroc bởi người Pháp.

- 1930: Tại Libia bởi người Italia.

- 1934: Tại Trung Quốc bởi người Nhật.

- 1935-1940: Tại Ethiopia bởi người Italia.

Người Nhật một lần nữa lại sử dụng khí này tại Trung Quốc trong khoảng thời gian 1937-1942. Đồng thời họ cũng lần đầu tiên đưa vào sử dụng vũ khí sinh học từ vi khuẩn bệnh dịch hạch.

Tại Việt Nam quân đội Mỹ dã sử dụng rộng rãi Trioxine và chất độc màu da cam trong những năm 1961-1967.

Trong thời kỳ chiến tranh Iran-Iraq 1980-1988 người Iraq đã sử dụng khí mù tạt và khí sarin.

Năm 1984 một giáo phái của Mỹ đã sử dụng vi khuẩn salmonela typhimurium để giết chết nhiều người.

Tại Nhật Bản giáo phái Aum đã hai lần sử dụng khí sarin:

- Lần thứ nhất vào ngày 27/6/1994 tại Matsumoto gần núi Fuji giết chết 7 người và làm bị thương 300 người khác.

- Lần thứ hai vào ngày 20/3/1995 trong ga tàu điện ngầm ở Tokyo làm chết 12 người và bị thương gần 5.000 người.

Từ đó tới đầu tháng 10 không trường hợp sử dụng vũ khí sinh hóa học nào được chính thức ghi nhận. Báo cáo này được đăng trên website của WHO.

Thu Thủy (theo AFP)

hotinhtam

dioxin

DIOXIN

Từ 1962 – 1971 Mỹ đã rải xuống Việt Nam 20 triệu gallon thuốc diệt cỏ và thuốc khai quan ( 1gallon = 3 78 lít) tương đương 76 9 triệu lít. Nhóm nghiên cứu của trường đại học Colombia tính ra được rằng có khoảng hơn 3.181 làng xã đã có tiếp xúc với chất khai quang và ít nhất 2 1 triệu dân bị ảnh hưởng bởi chất khai quang.

Theo bản đồ về thuốc khai quang ở Việt Nam của Bộ Cựu chiến Binh Mỹ vùng III chiến thuật (miền Đông) là vùng bị ảnh hưởng nặng nhất kế đó là vùng I vùng II vùng IV.

Vụ kiện của các nạn nhân chất độc da cam đang gây nhiều tranh cãi mà theo chính báo chí Hoa Kỳ từ Chính phủ Mỹ đến các công ty Hoa Kỳ đều đang tìm cách chạy làng.

Danh sách các công Ty sản xuất hóa chất Hoa Kỳ bị đơn kiện: 30 tập đoàn và công ty.

Hồ Tĩnh Tâm tổng hợp

hotinhtam

tiếp theo

Lịch sử

Trong các cuộc chiến tranh xung đột rất xa xưa người ta đã biết sử dụng các loại vũ khí hóa học như tên tẩm thuốc độc do thổ dân da đỏ dùng để tiêu diệt ác thú đánh giặc ngoại xâm. Người ta cũng sử dụng chất độc bỏ vào giếng nước ăn để tiêu diệt hàng loạt sinh lực đối phương. Trước Công Nguyên người Ấn Độ đã biết dùng khói hơi ngạt để hạ đối phương.

Tuy nhiên Vũ khí hóa học được sử dụng phổ biến nhất từ thế kỷ 20 đặc biệt là trong hai cuộc đại chiến thế giới trong chiến tranh Việt Nam và một số cuộc chiến khác. Trong Đệ nhất thế chiến cả hai phe tham chiến đều dùng Khí làm chảy nước mắt khí Clo khí photgen gây ngạt chứa trong chai trong đạn pháo đạn cối làm cho 1.360.000 người bị nhiễm độc vì hơi ngạt trong đó có 94.000 người chết. Trong chiến tranh Việt Nam Mỹ đã sử dụng nhiều loại vũ khí hóa học đặc biệt là chất độc da cam gây hậu quả nặng nề đến tận ngày nay.
Hậu quả

Người Mĩ đã để lại hậu quả nặng nề cho nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh xâm lược do chất độc hóa học Chúng để lại hậu quả nặng nề do di truyền cho bao nhiêu thế hệ.
Phân loại

Vũ khí hóa học được phân loại như sau:

1. Theo loại chất độc
1. Vũ khí hóa học gây ngạt
2. Vũ khí hóa học gây tổn thương thần kinh
3. Vũ khí hóa học gây loét da
4. Vũ khí hóa học diệt cây
2. Theo đối tượng tác chiến
1. Vũ khí hóa học tiêu diệt sinh lực
2. Vũ khí hóa học diệt cây

hotinhtam

vũ khí hóa học

Vũ khí hóa học là loại vũ khí sử dụng chất hóa học (thường là chất độc quân sự) gây tổn thương nguy hại trực tiếp cho người động vật và cây cỏ. Vũ khí hóa học là một trong những loại vũ khí hủy diệt lớn gây chết người hàng loạt. Vũ khí hóa học dựa trên đặc điểm độc tính cao và gây tác dụng nhanh của chất độc quân sự để gây tổn thất lớn cho đối phương.
Cấu trúc hóa học của chất độc thần kinh Sarin được phát minh vào năm 1938 bởi người Đức