ĐƯỢC VÀ MẤT CỦA VĂN HỌC VĨNH LONG TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG

nuy.vệ nữ (9)

Chính cơ chế thị trường với tính năng động của nó đã tạo ra một cú hích rất mạnh đến đời sống văn học. Theo dõi đời sống văn học tại Vĩnh Long ta thấy càng ngày càng có nhiều tác giả tự bỏ tiền ra in và phát hành tác phẩm của mình tới bạn đọc; trong đó sản phẩm hàng hóa thơ là phát triển nhanh nhất mạnh nhất. Điều đặc biệt là chính các tác giả lớn tuổi lại là người tích cực sáng tác và in ấn tác phẩm thành sách nhiều nhất.


ĐƯỢC VÀ MẤT CỦA VĂN HỌC VĨNH LONG TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG
            Hồ Tĩnh Tâm

 

Cơ chế thị trường rõ ràng càng ngày càng tác động mạnh mẽ vào đời sống xã hội trong đó có cả đời sống của văn học nó góp phần tạo nên một diện mạo mới cho văn học theo nhiều xu hướng khác nhau kể cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực.

 

altTính tác động tất yếu của cơ chế thị trường đến đời sống văn học là đương nhiên khi mà chúng ta đã chấp nhận tác phẩm văn học là hàng hóa văn học mang  tính đặc thù riêng của nghệ thuật trên lĩnh vực văn học. Khi đã coi tác phẩm văn học là hàng hóa văn học tất nhiên người sản xuất ra hàng hóa văn học không thể không xem xét đến nhu cầu của đối tượng người mua hay nói cho lịch sự là đối tượng người đọc. Trong thực tế không gian đối tượng người mua sản phẩm hàng hóa văn học rất rộng với rất nhiều nhu cầu khác nhau của đủ thứ đối tượng khác nhau cả về nhu cầu tâm lý đọc cũng như về nhu cầu thẩm mỹ đọc. Điều đó ảnh hưởng rất mạnh đến đội ngũ những người sản xuất hàng hóa văn học bởi lẽ hàng hóa phải đáp ứng nhu cầu của người mua thì mới bán được. Thực tế này đã làm nảy sinh rất nhiều dòng văn học khác nhau như văn học lập dị văn học giả tưởng văn học ma quái văn học sex… Và các dòng văn học này có thật sự là văn học không thì còn tùy thuộc vào giá trị hàng hóa văn học đích thực của nó.

 

Tại Vĩnh Long sau khoảng thời gian hơn mười năm xuất hiện ồ ạt dòng văn học diễm tình bình dân sản phẩm hàng hóa văn học loại này bắt đầu chìm xuống rất có thể là do nhu cầu đọc đã chuyển hướng hoặc nhu cầu đọc đã được phát triển cao hơn về phương diện thẩm mỹ văn chương. Cơ chế thị trường tự nó đã và đang loại bỏ không thương tiếc thứ sản phẩm hàng hóa văn học rẻ tiền này. Điều đó khiến các tác giả chuyên sản xuất hàng hóa văn học diễm tình cũng dần mất đi. Thay vào đó một đội ngũ sáng tác mới bắt đầu xuất hiện tung lên mạng internet hàng loạt sản phẩm hàng hóa văn học mang tính phản văn học nhưng con số thống kê lại cho thấy số lượng bạn đọc của họ rất nhiều. Các giá trị thẩm mỹ văn học hình như không được đặt ra yếu tố dung tục mới là hàng đầu. Tuy nhiên trong số rất nhiều những người chuyên sản xuất thứ hàng hóa văn học dung tục này chúng ta vẫn thấy một số tác giả viết khá tốt; và đương nhiên ảnh hưởng của họ đến đời sống văn học là không nhỏ- nếu chúng ta chủ quan không xem xét đến sự tồn tại của dòng chảy văn học này.

 

Tại Vĩnh Long rất may là các cây bút trẻ hình như không ai bị sa vào dòng văn học dung tục này mặc dù đội ngũ sáng tác trẻ phát triển rất mạnh. Phần lớn tác phẩm của họ đều được tung lên mạng và trình làng trên các trang báo của cả nước. Nếu bỏ thời gian thành lập một bản đồ văn học mạng ta sẽ thấy hầu hết các địa danh ở Vĩnh Long đều có các tác giả sản xuất hàng hóa văn chương mạng ở độ tuổi còn rất trẻ độ tuổi học sinh sinh viên.

 

Chính cơ chế thị trường với tính năng động của nó đã tạo ra một cú hích rất mạnh đến đời sống văn học. Theo dõi đời sống văn học tại Vĩnh Long ta thấy càng ngày càng có nhiều tác giả tự bỏ tiền ra in và phát hành tác phẩm của mình tới bạn đọc; trong đó sản phẩm hàng hóa thơ là phát triển nhanh nhất mạnh nhất. Điều đặc biệt là chính các tác giả lớn tuổi lại là người tích cực sáng tác và in ấn tác phẩm thành sách nhiều nhất. Nổi bật trong số đó là các tác giả An Trường Mai Vũ Hải Bằng Quý Hữu Nguyễn Văn Yên Trăng Cửu Long… đều ở độ tuổi ngoài “thất thập cổ lai hy”. Và như đã nói các tác giả trẻ chủ yếu là viết đăng báo để kiếm tiền và viết tung lên mạng để nhanh chóng đưa tác phẩm đến với bạn đọc. Chính lực lượng sáng tác trẻ này mới là lực lượng xung kích tạo ra sự đa dạng và sinh động cho dòng chảy văn học trong xu thế hội nhập của văn học Vĩnh Long.

 

Cái được của văn học Vĩnh Long trong cớ chế thị trường là được về sự đa dạng và phong phú của các diện mạo văn học cả về thể loại cả về nội dung. Việc các tác giả có thể liên kết trực tiếp với các nhà sách để in ấn sản phẩm hàng hóa văn học của mình đã làm giàu cho văn học Vĩnh Long về nhiều mặt vì các tác giả không còn bị gò vào định hướng sáng tác theo chủ đề theo số chữ mà Ban biên tập các Tòa soạn đặt ra. Sự thông thoáng đã khởi nguồn cho tư duy lao động sáng tạo nghệ thuật phát huy cá tính sáng tạo của từng tác giả.

 

Tất nhiên trong dòng chảy của văn học thời cơ chế thị trường cái đẹp về giá trị văn chương được phát huy rất cao nhưng không thể không có sự xô bồ của những giá trị văn học phản văn học. Thế nhưng dù sao chăng nữa chúng ta cũng không thể phủ nhận tính tích cực của cơ chế thị trường đối với văn học. Đó là sự tác động để mở đường cho nhiều trường phái văn học khác nhau xuất hiện. Văn học sex không còn bị coi là xấu. Văn học huyền bí không còn bị coi là duy tâm. Một chân trời mới cho lao động sản xuất hàng hóa văn học đích thực đã được mở ra vấn đề là các tác giả có làm chủ được bản lĩnh sáng tạo của mình.

 

Ở đây khi xem xét giá trị của sản phẩm hàng hóa văn học trong cơ chế thị trường tiêu chí đặt ra hàng đầu là tính nhân văn mà người sản xuất hàng hóa văn học gởi vào tác phẩm của mình. Tính Đảng cao nhất của tác phẩm chính là sự đậm đặc về chất nhân văn trong tác phẩm. Điều đó đã tạo ra sự cởi mở rất thoáng cho những người lao động sáng tạo nghệ thuật.

 

Đến đây thiết nghĩ cũng nên đặt lại vấn đề về một thời mà chúng ta vẫn gọi là thời bao cấp. Mọi thứ đều do Nhà nước bao cấp. Ngay cả tư duy lao động sáng tạo của cá nhân từng tác giả cũng được Nhà nước bao cấp luôn về tư tưởng chỉ đạo xiên suốt cho tác phẩm. Nhà văn hướng thiện là phải ngợi ca cái tốt viết về cái tốt đề cao cái tốt tích cực phản ánh thật nhiều về cái tốt. Không ít nhà văn thời ấy đã bị quy chụp về tư tưởng khiến cho họ không còn dám tư duy tìm tòi cái mới trong lao động sáng tạo. Chủ nghĩa hình thức chủ nghĩa rập khuôn bao trùm trong đời sống văn học nước nhà.

 

Ngọn gió đổi mới bùng lên cùng với sự hội nhập mạnh vào cơ chế thị trường đã tạo ra một chiều hướng sáng tác năng động hơn làm xuất hiện nhiều tác phẩm văn học đa dạng hơn sâu sắc và phong phú hơn đáp ứng cao hơn nhu cầu hưởng thụ văn học của bạn đọc. Cái được của văn học Vĩnh Long là rất lớn nhưng cái mất thì cũng cần phải được bình tĩnh nhìn nhận.  

HTT


viet

tiếp

Toàn bộ “khối tập” này được đẩy tiến lên (theo hướng tiến đến kết thúc truyện kể) từ đó khiêu khích tính thiếu kiên nhẫn của độc giả dưới hiệu ứng của hai thao tác cấu trúc: a) bóp méo hay xuyên tạc diện mạo: các khâu đoạn của một chuỗi hay một mã được chia tách được tết lại với các thành tố dị biệt; một chuỗi dường như bị bỏ quên (chẳng hạn thể trạng xấu đi của sức khỏe ông Valdemar) nhưng nó lại được tiếp tục ở sau thường là ở tận cuối; một sự trông đợi được tạo ra; giờ đây thậm chí chúng ta có thể định nghĩa chuỗi: đó chính là vi cấu trúc bất định xây dựng nên không phải là một mục tiêu logic mà là một sự trông đợi và cách giải quyết; b) tính không thể đảo ngược [irreversibility]: bất chấp đặc tính bất định của tiến trình cấu trúc trong truyện kể dễ đọc cổ điển (chẳng hạn như một truyện của Poe) có hai mã vẫn duy trì một trật tự được định hướng: mã hành động (được xây dựng trên một trật tự logic-thời gian) và mã Bí ẩn (vấn đề được đặt trong thế hướng đến việc giải đáp chính nó); từ đó tính không thể đảo ngược của truyện kể được tạo ra. Một điều rõ ràng rằng sự lật đổ của các nhà hiện đại chủ nghĩa sẽ dồn vào điểm này: nhóm tiền phong (để tiếp tục một thuật ngữ hữu dụng) cố khôi phục lại cho văn bản tính chất có thể đảo ngược được giữa các bộ phận trục xuất phần cốt lõi còn lại là tính logic-thời gian tấn công tính kinh nghiệm chủ nghĩa (logic của các hành vi mã hành động) và sự thực (mã bí ẩn).
Tuy nhiên chúng ta không được phép cường điệu cái khoảng cách chia tách văn bản hiện đại với truyện kể cổ điển. Chúng ta đã thấy trong truyện kể của Poe một mệnh đề đơn lẻ rất thường ám chỉ đồng thời đến hai mã mà chúng ta không thể chọn lựa cái nào là cái “thực” (chẳng hạn mã khoa học và mã biểu tượng): cái làm nên đặc thù của truyện kể từ thời điểm mà nó đạt tới giá trị của một văn bản là ở chỗ nó ràng buộc chúng ta vào tính bất xác quyết của các mã. Chúng ta thường đưa ra quyết định dựa trên thẩm quyền nào? Dựa vào tên của tác giả chăng? nhưng truyện kể đưa đến cho ta chỉ một phát ngôn nhân một diễn giả người bị mắc kẹt vào chính sản phẩm của anh ta. Dựa vào một kiểu phê bình này hoặc kia chăng? tất cả các kiểu phê bình đều có thể bị thách thức bị lịch sử vượt qua (điều này không có nghĩa rằng chúng vô ích: mỗi phương pháp phê bình đều dự phần nhưng với tư cách một giọng duy nhất trong khối tập văn bản[42]). Tính bất xác quyết không phải là một điểm yếu mà là một tình thế cấu trúc của truyện kể: không có sự phán quyết đơn nghĩa cho phát ngôn: trong một phát ngôn tồn tại nhiều mã nhiều giọng mà không có một sự ưu quyền nào. Sự viết chính xác là sự mất đi cái gốc sự mất đi các động cơ cho lợi ích của một tập hợp những tính phi quyết [indetermination] hay tính bội quyết [over-determination]: tập hợp này chính xác là tiến trình kiến tạo nghĩa [signifying]. Sự viết xuất hiện chính ngay tại thời điểm sự nói dừng lại có nghĩa là nó khởi đi từ cái thời điểm khi chúng ta không còn có thể chỉ ra ai nói và khi chúng ta chỉ khẳng định được rằng ở đó sự nói bắt đầu.
Lê Nguyên Long dịch
(Dịch từ bản dịch sang tiếng Anh của Donald G. Marshall in trong Poe Studies Volume 10 Number 1 June 1977 pp. 1-12)

TẠM DỪNG NHÉ. CHÚC NHÀ VĂN VUI KHỎE!

viet

tiếp

Một mã cuối cùng xuyên suốt (từ đầu) truyện kể: mã Bí ẩn [Enigma]. Chúng tôi chưa có cơ hội quan sát nó vận hành bởi chúng tôi chỉ phân tích một phần rất nhỏ truyện kể này của Poe. Mã Bí ẩn kết tập các khâu đoạn bằng việc liên kết các đơn vị (giống như một tuyên bố tự sự) mà với nó người ta gợi ra một bí ẩn và sau một vài lần “trì hoãn ” nó đem toàn bộ đồ gia vị đến cho truyện kể nó tiết lộ giải pháp. Các khâu đoạn của mã bí ẩn (hay mã tường giải học) được phân biệt rất rõ: cần thiết phải phân biệt chẳng hạn việc gợi ra sự bí ẩn (một hệ thống kí hiệu nào đó mà ý nghĩa của nó là “có một sự bí ẩn”) với việc trình bày sự bí ẩn (vấn đề được trưng ra theo một cách thức ngẫu nhiên). Trong truyện sự bí ẩn được gợi ra ngay ở cái tiêu đề (“sự thực” được thông báo nhưng người ta vẫn chưa biết là về vấn đề gì) được xây dựng từ đoạn mở đầu (trong trình bày mang tính khoa học các vấn đề được kết nối với cuộc thí nghiệm đã được dự kiến) và thậm chí từ đoạn mở đầu nó đã bị trì hoãn: mọi truyện kể rõ ràng có một mối quan tâm tới việc trì hoãn giải quyết cái bí ẩn mà nó gợi ra bởi việc giải quyết này sẽ rung chuông báo tử cho chính nó với tư cách là một truyện kể: chúng ta đã thấy rằng người kể chuyện sử dụng cả một đoạn để trì hoãn việc trình bày vụ việc dưới vỏ bọc của những dự phòng khoa học. Để giải quyết sự bí ẩn ở đây không cần đến một trật tự toán học. Tóm lại toàn bộ truyện kể là để trả lời cho câu hỏi ở đầu câu hỏi về sự thật (tuy nhiên sự thật này có thể được thu lại thành hai điểm: nói lên rằng “Tôi chết rồi” và sự hóa lỏng bất ngờ của người chết tại thời điểm anh ta thức dậy thoát khỏi trạng thái thôi miên). Ở đây sự thật không phải là đối tượng của một sự mặc khải mà là của một sự khiếp sợ.
Các mã đó xuyên suốt các đoạn mà chúng tôi đã phân tích. Chúng tôi cố ý không cấu trúc thêm chúng cũng như không cố sắp xếp các khâu đoạn bên trong mỗi mã theo một giản đồ có tính logic hay kí hiệu học. Đối với chúng tôi các mã chỉ là những xuất phát điểm của cái đã được đọc rồi những khởi đầu đầy lôi cuốn của tính liên văn bản. Đặc tính được tháo gỡ của các mã không phải là cái mâu thuẫn với cấu trúc (bởi như người ta vẫn tin rằng cuộc sống tưởng tượng trực giác sự lộn xộn là mâu thuẫn với hệ thống lí tính) mà ngược lại (đây là sự khẳng định mang tính nền tảng của phân tích theo phương pháp văn bản) nó là bộ phận hợp nhất của tiến trình cấu trúc. Chính sự tháo gỡ văn bản này phân biệt cấu trúc – nói một cách chính xác là mục tiêu của phân tích theo phương pháp cấu trúc – với tiến trình cấu trúc – mục tiêu của phân tích theo phương pháp văn bản mà tôi đã cố gắng thao tác ở đây.
Cái ẩn dụ thuộc về lĩnh vực dệt may [textile][41] mà tôi vừa sử dụng không phải là tuỳ tiện. Phân tích theo phương pháp văn bản trên thực tế theo đuổi việc thể hiện văn bản như là một mảnh dệt (điều này hơn nữa còn có ý nghĩa từ nguyên học) như là một sợi dây tết các tiếng nói khác nhau nhiều mã khác nhau; chúng cùng lúc được bện tết và có tính không hoàn tất. Một truyện kể không phải là một không gian nhất phiến một cấu trúc theo mặt phẳng; nó là một khối tập một âm thanh lập thể (Eisenstein đã tập trung rất nhiều đến cái đối điểm [counter-point] khi tiến hành dàn dựng phim theo đó ông đã ngầm khởi đầu việc phân biệt phim ảnh và văn bản): có một thính trường [field of hearing] cho một truyện kể thành văn [written narrative]; phương thức thể hiện ý nghĩa (có lẽ ngoại trừ các chuỗi hành động) không phải là sự tiến triển mà là sự bùng nổ [outbreak]: yêu cầu tiếp xúc giao tiếp đưa ra thoả thuận trao đổi; những bùng nổ của các hệ quy chiếu những loé sáng của kiến thức những cú đánh mạnh hơn và sâu hơn đến từ “cảnh khác” mang ý nghĩa biểu tượng có tính đứt đoạn với những hành động đi kèm với một chuỗi duy nhất nhưng theo một cách thức lỏng lẻo liên tục bị ngắt quãng.

viet

tiếp

Mã giao tiếp cũng có thể được gọi là mã đích. Giao tiếp nên được hiểu theo một ý nghĩa hạn định. Nó không bao khắp sự kiến tạo nghĩa [signification] trong một văn bản càng không phải đối với sự kiến tạo nghĩa của nó; nó chỉ vạch ra mọi mối quan hệ mà trong văn bản nó được trình bày như là một địa chỉ (đây là tình huống với mã “phatic” mã gánh vác trách nhiệm làm nổi bật mối quan hệ giữa người kể chuyện với độc giả) hoặc như là một sự hoán đổi (truyện kể được hoán đổi cho sự thực cho cuộc sống). Tóm lại giao tiếp ở đây nên được hiểu theo một nghĩa kinh tế (sự giao tiếp lưu thông hàng hóa).
Trường nghĩa biểu tượng (“trường” ở đây ít nghiêm ngặt hơn “mã”) chắc chắn là rất rộng bởi ở đây chúng ta sử dụng từ “biểu tượng” [symbol] theo ý nghĩa khái quát nhất có thể chấp nhận được mà không phải lo lắng về bất kì ý nghĩa hàm ẩn thông thường nào đó của nó. Ý nghĩa mà chúng ta chỉ tới rất gần với phân tâm học: biểu tượng tóm lại là đặc điểm của ngôn ngữ cái thay thế cho cơ thể và cho phép “phác thảo” về một màn cảnh nào đó chứ không phải là về chính phát ngôn để chúng ta tin rằng chúng ta đang đọc nó. Phần lõi cốt mang giá trị biểu tượng trong truyện của Poe rõ ràng là sự vi phạm điều cấm kị về Cái chết sự rối loạn trong phân loại mà Baudelaire đã dịch (rất hay) là sự xâm lấn của Sự sống vào Cái chết (và không phải một cách nhàm chán là của Cái chết vào Sự sống). Sự tinh tế của truyện phần nào đó đến từ sự thật rằng phát ngôn dường như bắt đầu từ một người kể chuyện phi biểu tượng tính người đã sắm vai một chuyên gia khách quan một mình bị hút vào sự thực một người xa lạ với biểu tượng (cái đã trở lại mạnh mẽ trong truyện ngắn này).
Cái mà chúng tôi gọi là mã hành động đã hỗ trợ cho cái khuôn hình giai thoại của truyện kể. Các hành động hay là các phát ngôn biểu thị cho chúng được tổ chức thành các chuỗi. Chuỗi có một định tính tương đối (người ta không thể xác định đường nét của nó một cách nghiêm ngặt cũng như không thể theo một cách thức toàn hảo). Điều này được biện minh bằng hai cách: bởi chúng ta một cách tự nhiên đối diện với nó và cấp cho nó một cái tên chung (chẳng hạn một số lượng nào đấy các kí hiệu sức khỏe tồi sự trở bệnh sự đau đớn cực độ chứng hoại thư sự hóa lỏng của cơ thể; chúng được nhóm lại một cách tự nhiên theo một ý niệm khuôn mẫu “Cái chết về mặt Y học”) và sau đó bởi các khâu đoạn của chuỗi hành động được buộc lại với nhau (từ cái này tới cái kia bởi chúng kế tiếp nhau xuyên suốt chiều dài truyện kể) bằng một logic bề ngoài. Chúng tôi muốn nói rằng cái logic tạo nên chuỗi hành động này đã bị vẩn đục xét từ một điểm nhìn khoa học. Nó chỉ là một logic bề ngoài không đến từ những quy luật suy lí chuẩn tắc mà đến từ những tập tính suy lí và quan sát của chúng ta: nó là logic suy lí thường kiến [endoxal][40] thuộc về văn hóa (đối với chúng ta có vẻ logic rằng một chẩn đoán chính xác và nghiêm nhặt cho phép khẳng định một tình trạng sức khỏe tồi tệ). Hơn nữa logic này nhập nhằng với tính niên biểu: chúng ta nhận thấy rằng cái đến sau có vẻ như là cái bị gây ra bởi. Dù chưa bao giờ có tính thuần túy trong truyện kể chúng ta cảm thấy rằng dường như tính thời gian và tính nhân quả xây dựng nên một kiểu tính tự nhiên tính dễ hiểu tính dễ đọc của giai thoại: chẳng hạn chúng cho phép ta tổng kết về giai thoại (cái mà người xưa gọi là lập luận một từ cùng lúc mang cả thuộc tính logic lẫn tự sự).

viet

tiếp

Những kết luận về mặt phương pháp luận
Các nhận xét dùng để kết luận những đoạn phân tích này không nhất thiết phải có “tính lí luận”. Lí luận không trừu tượng tư biện: bản thân sự phân tích mặc dù thực hiện cho một văn bản ngẫu nhiên là đã có tính lí luận rồi theo cái nghĩa rằng nó quan sát (đó là mục tiêu của nó) một ngôn ngữ trong tiến trình tự xác lập. Điều đó nghĩa là rằng – hay là để nhắc lại – rằng chúng tôi đã không tiến hành cắt nghĩa văn bản: chúng tôi đơn giản cố nắm bắt truyện kể trong quá trình nó tự kiến tạo nên chính nó (điều đó đồng thời ngầm chỉ tới cấu trúc và sự vận động hệ thống và tính vô tận). Tiến trình cấu trúc đó không vượt ra ngoài giới hạn mà việc đọc hoàn thành một cách tự nhiên. Nói theo cung cách kết luận vấn đề thì vấn đề ở đây không phải là tiết lộ “cấu trúc” truyện kể của Poe lại càng không phải đối với mọi truyện kể mà chỉ là – theo một cách tự do ít bị trói buộc hơn tới tiến trình tháo gỡ văn bản – trở lại với những mã trọng yếu mà chúng tôi đã ghi nhận thấy.
Bản thân từ mã ở đây không nên được hiểu theo ý nghĩa khoa học nghiêm ngặt của thuật ngữ. Các mã đơn giản là những trường liên tưởng một tổ chức siêu văn bản của những hệ thống kí hiệu hệ thống này áp chế một ý niệm nào đó về cấu trúc. Đối với chúng ta sự xuất hiện của mã về bản chất là thuộc về văn hóa: các mã là những kiểu xác định nào đó của cái déjà-vu cái đã được nhìn thấy đã được đọc đã được tạo ra: mã là hình thức của cái đã hoàn thành này cái thiết lập nên sự viết về thế giới.
Mặc dầu tất cả các mã trên thực tế là thuộc về văn hóa dẫu vậy có một trong số chúng mà chúng ta đã trực diện cái mà chúng tôi sẽ gọi ưu biệt là mã văn hóa: đây là mã của tri thức hay đúng hơn là của những hiểu biết về con người của những quan điểm cộng đồng của văn hóa những cái được truyền lại thông qua sách vở thông qua việc dạy và theo cách nói khái quát và phổ biến hơn thông qua toàn bộ xã hội. Mã này có kiến thức tham chiếu của nó trong chừng mực nó là một tập hợp các quy tắc được chi tiết hóa bởi xã hội. Chúng ta đã bắt gặp nhiều mã văn hóa này (hay đúng hơn là các mã thứ cấp của mã văn hóa chung): mã khoa học cái đồng thời dựa vào (như trong truyện chúng ta phân tích ở đây) các quy tắc thí nghiệm và vào các nguyên lí của đạo nghĩa học y học; mã tu từ học tập hợp tất cả các nguyên tắc xã hội cho việc nói: các hình thức được mã hóa của truyện kể các hình thức được mã hóa của diễn ngôn (thông báo tóm tắt v.v…); thông báo siêu ngôn ngữ học (diễn ngôn nói về chính nó) trở thành bộ phận của mã này; mã lịch đại: việc “ghi ngày tháng” ngày nay đối với chúng ta dường như là tự nhiên khách quan nhưng thực sự là một thực hành văn hóa cao cấp – nó là bình thường bởi nó ngầm chỉ một ý hệ xác định về thời gian (thời gian “lịch sử” không giống với thời gian “huyền thoại”); tổng thể các điểm nhìn biên niên của hệ quy chiếu do vậy thiết lập nên một mã văn hóa vững chắc (một hành vi mang tính lịch sử chia cắt thời gian cho những mục tiêu đem lại tính kịch diện mạo khoa học và hiệu ứng hiện thực); mã xã hội-lịch sử cho phép sự huy động bên trong sự phát ngôn cái kiến thức tổng thể mang tính bẩm sinh mà chúng ta có về thời đại chúng ta xã hội chúng ta đất nước chúng ta (việc nói M. Valdemar mà không nói Valdemar chúng tôi nhắc lại có vị trí của nó ở đây). Chúng ta không phải bận tâm trước việc chúng tôi thiết lập các mã từ những hệ thống tín hiệu cực kì nhàm chán: ngược lại chính tính nhàm chán của chúng sự vô nghĩa bề ngoài của chúng đã khiến chúng trở thành mã như chúng tôi đã định nghĩa nó: [mã là] một tập hợp các quy tắc được sử dụng sáo mòn đến nỗi chúng tôi cho rằng chúng là các đặc tính tự nhiên nhưng nếu truyện kể rời bỏ chúng nó sẽ rất nhanh chóng trở nên không thể đọc nổi.

viet

tiếp

3) Vấn đề này cũng là một vụ xì xăng đan về cấu trúc ngôn ngữ (và không phải ở cấp độ diễn ngôn). Trong tổng thể lí tưởng của tất cả các phát ngôn khả hữu của hệ thống ngôn ngữ sự kết nối của ngôi thứ nhất (Tôi) và của thuộc tính “chết” rõ ràng về cơ bản là điều không thể diễn ra. Nó là một sự trống rỗng một điểm mù của cấu trúc ngôn ngữ mà truyện kể sẽ lấp đầy một cách rất chính xác. Cái được nói lên chẳng là gì ngoài tính bất khả hữu này: cụm từ không mang tính miêu tả [descriptive] không có tính chất khẳng định [constative][xi] nó chẳng mang lại một thông điệp nào khác hơn là sự phát ngôn của chính nó: về một nghĩa nào đó người ta có thể nói rằng ở đây tồn tại một sự biểu hành [performative] nhưng chắc chắn không phải là theo một cách thức giống như Austin lẫn Benveniste đã dự đoán trong các phân tích của họ (hãy để chúng tôi nhắc lại rằng biểu hành là phương thức phát ngôn theo đó cái được phát ngôn chỉ nhằm trỏ tới sự thực của việc được phát ngôn: Tôi tuyên bố chiến tranh; tính chất biểu hành bắt buộc phải luôn luôn trong ngôi thứ nhất nếu không chúng trượt sang tính chất khẳng định: ông ta tuyên bố chiến tranh).[38] Ở đây câu nói lạc lõng thể hiện một tính bất khả hữu.
4) Từ một quan điểm ngữ nghĩa học đúng đắn câu nói “Tôi chết rồi” cùng một lúc xác nhận hai sự đối lập (Sự sống Cái chết): nó là một phép phản ngữ [enantioseme] [39]xii] nhưng một lần nữa lại tự thân mang tính đơn nhất: cái biểu đạt thể hiện một cái được biểu đạt (Cái chết) cái mâu thuẫn với phát ngôn của nó. Và dầu vậy cần thiết nói thêm rằng: đó không phải là một sự phủ định giản đơn trong ý nghĩa phân tâm học “Tôi chết rồi” thì lại có nghĩa rằng “Tôi chưa chết” hay chính xác hơn một sự khẳng-phủ định: “Tôi chết rồi và chưa chết”. Ở đây có một cơn bộc phát của sự vi phạm sự sáng tạo ra một phạm trù chưa từng có: cái thật-giả cái có-không cái chết-sống được xem như một tổng thể có tính chất không thể phân chia không thể kết hợp phi biện chứng bởi cái phản đề này không ngầm chỉ đến tồn thể thứ ba nào cả. Nó không phải là một thực thể hai mặt mà là một tồn thể mới mẻ và đơn nhất.
5) Về câu “Tôi chết rồi ” một quan điểm phân tâm học vẫn có thể chấp nhận được. Tôi đã nói rằng cụm từ đó khiến tính chất xì căng đan trở về với nghĩa đen. Điều đó có nghĩa rằng Cái chết – như là sự kìm nén thuộc về bản nguyên – phun trào trực tiếp vào trong ngôn ngữ. Sự trở lại này mang tính chấn thương rõ rệt khi nó phần nào được thể hiện tiếp sau đó với hình ảnh bùng nổ (147: “giữa những tiếng bật thốt lên “chết!” “chết!” hoàn toàn vỡ ra từ lưỡi và không phải từ đôi môi của người chịu sự đau đớn…”): câu nói “ Tôi chết rồi” là một cấm kị bị phá vỡ. Giờ đây nếu ý nghĩa biểu tượng là lĩnh vực của chứng loạn thần kinh chức năng [neurosis] thì sự trở lại của nghĩa đen – cái ngầm chỉ rằng các biểu tượng bị ngăn cản – lại mở ra không gian của chứng rối loạn tâm thần [psychosis]: ở thời điểm này của truyện ngắn mọi biểu tượng dừng lại khi mọi chứng rối loạn tâm thần hoạt động. Đó là lúc chứng rối loạn tâm thần tiến vào văn bản bằng cái cảnh tượng ngăn cản cái biểu đạt: cái kì quặc [extraordinary] của Poe đích thị là cái điên cuồng [madness].[xiii]
Những lời bình luận khác đều khả thủ đáng chú ý là của Jacques Derrida.[xiv] Tôi tự giới hạn mình trong những gì mà phân tích theo phương pháp cấu trúc mang lại cố vạch ra rằng cụm từ chưa từng được biết tới “Tôi chết rồi” không hề là một phát ngôn không đáng tin cậy chút nào mà xác đáng hơn nó là một phát ngôn bất khả hữu.
Trước khi đi đến một vài kết luận về mặt phương pháp luận trên cấp độ giai thoại thuần túy tôi muốn nhắc đến đoạn cuối của truyện: Valdemar vẫn chết dưới tác động của thôi miên trong thời gian bảy tháng; với sự đồng ý của các bác sĩ P. quyết định đánh thức ông ta dậy; những cái huơ tay (thôi miên) đã thành công và chút sắc vẻ đã trở lại trên đôi gò má của Valdemar; nhưng trong khi P. cố đẩy nhanh việc đánh thức đối tượng bằng việc tăng cường những cái huơ tay thì những tiếng gào rống “chết! chết!” vỡ ra từ lưỡi của ông ta và bất thình lình toàn bộ cơ thể của ông ta co rúm lại sụp xuống thối rữa dưới bàn tay của nhà thí nghiệm còn lại chẳng gì hơn là một “đám chất lỏng ghê tởm – thối rữa đáng ghét”.

viet

tiếp

c) Chúng ta chú ý đến một kĩ xảo thuộc về mã niên biểu: “khi đó tôi đã nghĩ và đến bấy giờ tôi vẫn cho như vậy ”: ba thời gian tính cùng hiện diện ở đây: thời gian của câu chuyện của truyện kể [diegesis][x] (“khi đó tôi đã nghĩ ”) thời gian của sự viết (“tôi nghĩ đồng thời với tôi đang viết”) thời gian của sự đọc (diễn ra bởi thời hiện tại của sự viết bản thân chúng ta nghĩ cùng lúc là chúng ta đọc). Sự kết hợp này tạo nên một hiệu quả của tính hiện thực.
(109) “M.Valdemar đã nói –rõ ràng để trả lời câu hỏi mà tôi đã đề xuất với ông ta vài phút trước đó. Tôi đã hỏi ông nó sẽ vẫn được ghi nhớ rằng có phải ông ta vẫn ngủ hay không”.
a) Cuộc thẩm vấn IV vẫn đang được thực hiện: câu hỏi ở đây được nhắc lại (so sánh với 100) câu trả lời được thông báo.
b) Phát ngôn của người đã chết được thôi miên là sự trả lời chính xác khó khăn III được gợi ra trong (14): tới phạm vi nào thì thôi miên có thể chặn lại được cái chết? Đây là câu trả lời cho vấn đề này: tới phạm vi của ngôn ngữ.
(110) “Bây giờ thì ông đã nói: ‘Vâng; – không; –tôi vẫn đang còn ngủ – và giờ thì – giờ thì – Tôi chết rồi’”.
Từ điểm nhìn cấu trúc đơn vị đọc này thật đơn giản: nó là khâu đoạn “trả lời” (“Tôi chết rồi”) cho Cuộc thẩm vấn IV. Tuy nhiên vượt lên trên cấu trúc truyện kể (sự hiện diện của đơn vị đọc này trong chuỗi hành động) nghĩa hàm ẩn của ngôn từ (“Tôi chết rồi”) có một sự giàu có không thể cạn kiệt. Chắc chắn có tồn tại một số lượng lớn các truyện kể huyền thoại ở đó cái chết cất lên tiếng nói; nhưng điều đó là để nói rằng: “Tôi còn sống”. Ở đây có một hình thái đơn nhất [hapax] [37] thực sự của ngữ pháp tự sự một sự dàn dựng một phát ngôn không thể tồn tại trong chừng mực nó là phát ngôn: Tôi chết rồi. Hãy để chúng tôi trình bày vài ý nghĩa hàm ẩn của nó:
1) Chúng ta đã giải quyết chủ đề sự xâm lấn (của Sự sống vào Cái chết). Sự xâm lấn là một sự rối loạn về mặt hệ hình một sự rối loạn của nghĩa. Trong hệ hình Sự sống / Cái chết dấu gạch chéo thường được đọc là “đối với” (versus). Nó cũng có thể được đọc là “lên” để tạo ra sự xâm lấn và phá hủy hệ hình này. Điều đó đã diễn ra ở đây. Có một sự gặm nhấm tuỳ tiện của một không gian này vào không gian kia. Điều thú vị là sự xâm lấn ở đây diễn ra trên cấp độ ngôn ngữ. Quan điểm cho rằng ngay cả khi đã chết người chết vẫn có thể tiếp tục hoạt động là một quan điểm vô vị. Đó mà điều được nói tới trong câu tục ngữ “Người chết chộp lấy kẻ sống” hoặc trong những huyền thoại tuyệt vời về lòng ăn năn hay là về sự báo thù sau khi chết. Đó là điều mà lời nhận xét hóm hỉnh của Forneret đã nói một cách hài hước: “Cái chết dạy cho những kẻ không thể dạy dỗ biết cách sống”. Nhưng ở đây hành động của người chết là một hành động ngôn ngữ thuần túy và tệ nhất là ngôn ngữ này vô ích nó không xuất hiện để có một hành động cho những người còn sống nó chẳng nói lên điều gì ngoài bản thân nó nó vạch ra chính nó theo cách thức lặp thừa. Trước khi nói “Tôi chết rồi ” tiếng nói đơn giản cất lên “Tôi nói”. Nó có chút nào đó giống với một ví dụ ngữ pháp ở đó ngôn ngữ chẳng trỏ tới điều gì hơn ngoài ngôn ngữ. Sự vô ích của phát ngôn là một phần của vụ xì căng đan: vấn đề là ở chỗ nó khẳng định một bản chất không tồn tại trong không gian của nó (sự bị thay thế chính là hình thức của tính biểu tượng này).
2) Một vụ xì căng đan khác của sự phát ngôn là sự chuyển nghĩa ẩn dụ trở về nghĩa đen. Trên thực tế thật là nhàm chán khi cứ bật ra cái cụm từ “Tôi chết rồi!”: nó giống như kiểu nói của một người phụ nữ khi đã dành cả buổi chiều hết đi mua sắm ở Bloomingdale’s đến đi sửa sang đầu tóc vân vân. Sự đảo ngược nghĩa ẩn dụ trở về với nghĩa đen chỉ vì phép ẩn dụ là điều bất khả: phát ngôn “Tôi chết rồi ” xét nghiêm ngặt về mặt nghĩa đen là không thể xảy ra (cho dù “Tôi đang ngủ” xét về mặt nghĩa đen vẫn có thể tồn tại trong lực trường của giấc ngủ thôi miên). Vấn đề ở đây do vậy có thể nói là một vụ xì căng đan ngôn ngữ.

viet

tiếp

(107) “[…] – chẳng hạn thật là điên rồ khi tôi cố miêu tả nó. Quả thực có hai hay ba tính ngữ hẳn được xem là phần nào thích hợp với nó. Có lẽ tôi phải nói chẳng hạn rằng âm thanh nghe khắc nghiệt đứt quãng và vô nghĩa; nhưng tổng thể thì thật ghê tởm và không thể mô tả được bởi nguyên nhân đơn giản rằng chẳng có âm thanh nào tương tự như vậy từng vang lên trong tai loài người.”
a) Mã siêu ngôn ngữ học hiện diện ở đây bởi một diễn ngôn về khó khăn của việc duy trì một diễn ngôn. Từ đó có thể sử dụng các thuật ngữ của chính mã siêu ngôn ngữ học: các tính ngữ định nghĩa mô tả.
b) Giá trị biểu tượng của Tiếng nói [Voice] được tận dụng: nó có hai đặc tính: ở bên trong (vô nghĩa) và gián đoạn (khắc nghiệt đứt quãng): điều này chuẩn bị cho một mâu thuẫn hợp logic (sự bảo đảm cho các hiện tượng siêu nhiên): đối lập giữa đứt quãng và dính nhớt (108) dù cho tính chất ở bên trong cho phép tạo ra một cảm giác về khoảng cách (108).
(108) “Tuy nhiên có hai chi tiết mà khi đó tôi đã nghĩ và đến bấy giờ tôi vẫn cho như vậy hẳn phải được xác định như là đặc tính của ngữ điệu – rất thích hợp để chuyên chở vài ý tưởng về điều kì dị không có trên trái đất này. Thứ nhất âm thanh dường như vọng đến tai chúng tôi – ít nhất là đối với tôi từ một khoảng cách rộng lớn hoặc như từ một cái hang sâu nào đó trong lòng đất. Thứ hai nó gây cho tôi ấn tượng (thú thực tôi sợ rằng bản thân tôi không thể hiểu rõ được nó là gì) như là những dạng tồn tại vật chất sền sệt hay dính nhớt tác động vào cơ quan xúc giác.
Tôi đã nói đến cả “âm thanh” và “tiếng nói.” Ý tôi muốn nói rằng âm thanh đó thuộc về một hệ thống âm tiết khác lạ – thậm chí là cực kì là vô cùng khác lạ”.
a) Ở đây có nhiều khâu đoạn của mã siêu ngôn ngữ học (tu từ học): thông báo (“hai chi tiết”) tóm tắt lại (“tôi đã nói về”) và sự phòng xa của phép hùng biện (“thú thực tôi sợ rằng bản thân tôi không thể hiểu rõ được nó là gì”).
b) Trường nghĩa biểu tượng của Tiếng nói mở rộng với việc sử dụng lại từ phần nào của đơn vị đọc 107: 1) khoảng cách (khoảng không gian tuyệt đối): tiếng nói ở rất xa bởi / mục đích để khoảng cách giữa Cái chết và Sự sống là / có thể là toàn bộ (bởi ngầm chỉ một động cơ thuộc về hiện thực thuộc về cái “đằng sau” trang giấy; mục đích để nhằm trỏ đến tính tất yếu của diễn ngôn cái muốn tiếp tục muốn trụ lại trong chừng mực nó là diễn ngôn; trong hệ thống kí hiệu bởi / mục đích để chúng ta chấp nhận việc xoắn kết cùng nhau của hai khẳng định khẳng định về hiện thực và về diễn ngôn chúng ta chứng thực sự lừa dối về mặt cấu trúc của cả truyện kể). Khoảng cách (giữa Sự sống và Cái chết) được xác nhận trong để tốt hơn là bị từ chối: nó cho phép sự vi phạm “sự xâm lấn ” sự miêu tả về cái chính là mục tiêu của truyện; 2) Cái ẩn chìm [subterranean][36]; chủ đề của Tiếng nói nói chung có tính chất chất kép mang tính mâu thuẫn: đôi khi nó là một vật nhẹ như một con chim lìa khỏi sự sống đôi khi nó là một vật nặng giống như dưới hang sâu và nổi lên từ dưới: nó là tiếng nói bị găm lại bị gắn chặt như một hòn đá tảng; cái sau là một chủ đề huyền thoại cổ: tiếng nói của cõi âm tiếng nói vọng lên từ nấm mồ (ở đây nó là cái hòm); 3) tính gián đoạn là nền tảng của ngôn ngữ; do vậy có một hiệu quả mang tính siêu nhiên khi nhận thức về một ngôn ngữ sền sệt dính nhớt ướt nhão; hệ thống kí hiệu có giá trị đúp: một mặt nó nhấn mạnh sự xa lạ của ngôn ngữ này cái đối lập với chính cấu trúc ngôn ngữ; và mặt khác nó tổng kết sự khó chịu tình trạng không thoải mái (dysphoria)[ix]: bị bẻ ra và dính lại gắn chặt vào (so sánh với tình trạng mưng mủ của mí mắt của thời điểm người chết thoát khỏi sự thôi miên để thức dậy có nghĩa là sẽ tiến vào cái chết thực sự 133); 4) hệ thống âm tiết khác biệt thiết lập nên phát ngôn sắp diễn ra về Cái chết như là một ngôn ngữ đầy đặn hoàn hảo chín muồi như là một bản chất của ngôn ngữ và không phải như một thứ ngôn ngữ cà lăm chưa chính xác bập bẹ một ngôn ngữ trẻ con bị vướng víu bởi một thứ phi ngôn ngữ [non-language]; nơi của nỗi sợ và khủng khiếp (“là cực kì là vô cùng khác lạ”): có một mâu thuẫn rõ ràng giữa Cái chết và Ngôn ngữ; đối lập của Sự sống không phải là Cái chết (đó là một sự sáo rỗng) mà là Ngôn ngữ: thật không thể xác quyết được là liệu Valdemar đang sống hay đã chết; điều chắc chắn là ông ta nói mặc dù người ta không thể coi phát ngôn của ông là của Cái chết hay Sự sống.

viet

tiếp

Phân tích theo phương pháp văn bản từ đơn vị đọc 103 đến 110
(103) “Giờ đây tôi cảm thấy rằng tôi đã chạm đến một điểm mấu chốt của câu chuyện này ở đó mọi độc giả sẽ bị giật mình vì không thể nào tin nổi. Tuy nhiên đối với tôi đó đơn giản chỉ là nhiệm vụ phải tiếp tục.”
a) Chúng ta biết rằng thông báo cho phép một diễn ngôn xuất hiện là một khâu đoạn của mã tu từ học (và mã siêu ngôn ngữ học). Chúng ta cũng nhận ra giá trị “món khai vị” của nghĩa hàm ẩn này.
b) Bổn phận (“là nhiệm vụ tôi phải thực hiện”) tuyên bố sự thực mà không phải băn khoăn về những bất đồng xác lập nên bộ phận của mã đạo nghĩa học khoa học.
c) Lời hứa về một “hiện thực” không thể tin nổi xác lập nên bộ phận của phạm vi truyện kể được xem như một món hàng. Nó nâng “giá” của truyện kể. Như vậy ở đây chúng ta có trong mã giao tiếp chung một mã thứ cấp của sự trao đổi mà với nó mọi truyện kể là một khâu đoạn so sánh với (5)b.
(104) “Chẳng còn chút dấu hiệu dù là yếu ớt nhất về sự sống ở M.Valdemar và kết luận rằng ông ta đã chết chúng tôi phó thác ông cho sự trông nom của các y tá […]”
Trong chuỗi dài “Cái chết về mặt y học” mà chúng ta đã diễn đạt bằng kí hiệu chứng hoại thư đã được chỉ ra trong (101): ở đây nó được chứng thực. Trong (101) trạng thái chết của M.Valdemar đã được miêu tả (thông qua hàng loạt các chú dẫn); ở đây nó được khẳng định bằng phương tiện của một siêu ngôn ngữ.
(105) “thì một co giật mạnh có thể nhìn thấy được ở lưỡi. Điều này diễn ra có lẽ chỉ thoáng chốc. Khi giai đoạn này kết thúc […]”
a) Mã niên biểu (“thoáng chốc”) củng cố hai hệ quả: một hệ quả của tính xác thực-hiện thực so sánh với (7) a và một hệ quả kịch tính: tiếng nói cất lên nặng nề tiếng khóc phát ra gợi nên cuộc đấu tranh giữa sự sống và cái chết: sự sống cố gắng thoát khỏi cái bẫy[34] của cái chết nó đấu tranh (hay đúng hơn ở đây cái chết không cố vượt thoát ra khỏi sự sống: chúng ta chớ quên rằng M.V. đã chết: ông ta phải níu bám không phải vào sự sống mà là vào cái chết).
b) Giây phút trước thời điểm mà chúng ta đã đề cập Poe đã thẩm vấn (thêm một lần thứ tư nữa) M.V.; và trước khi trả lời thì ông ta đã bị chết lâm sàng. Tuy nhiên chuỗi Thẩm vấn IV không đóng lại (chính ở đây phần bổ sung mà chúng ta đã đề cập ở trên đã xuất hiện): chuyển động của lưỡi chỉ ra rằng M.V. sẽ nói. Do đó chuỗi này phải được xây dựng như sau: câu hỏi (100) / (cái chết về mặt y học) / nỗ lực trả lời (chuỗi sẽ còn tiếp tục nữa).
c) Từ tất cả các dẫn chứng có một ý nghĩa biểu tượng của lưỡi. Lưỡi là ngôn từ (cắt lưỡi là cấm khẩu như chúng ta nhìn thấy trong nghi lễ tượng trưng trừng phạt những kẻ ăn nói báng bổ). Tiếp lưỡi có một phần thuộc về phủ tạng (của nội tạng) và đồng thời thuộc về tượng dương vật. Giá trị biểu tượng chung này ở đây được củng cố bởi sự thực rằng lưỡi chuyển động là đối lập mạnh mẽ (về mặt hệ hình) với cái lưỡi xám đen và sưng phồng lên trong cái chết về mặt y học (101). Vậy nên nó là sự sống của phủ tạng sự sống mạnh mẽ được đồng hóa với ngôn từ và bản thân ngôn từ được tôn sùng hóa trong trường hợp đặc biệt của một cơ quan mang tính tượng dương vật và nó bắt đầu rung theo một kiểu tiền-cực khoái: sự rung động kéo dài hàng phút là ham muốn khoái cảm và ham muốn nói: nó là chuyển động của Ham muốn để đạt tới một cái gì đó.
(106) “[…] nổi lên từ đôi hàm sưng phồng và bất động một tiếng nói […]”
a) Chuỗi thẩm vấn IV tiếp tục từng tí một bằng một sự liệt kê thú vị khâu đoạn “Trả lời” khái quát. Tất nhiên sự trì hoãn trả lời rất quen thuộc trong ngữ pháp Tự sự. Nhưng nói chung nó có một giá trị tâm lí học. Ở đây sự trì hoãn (và các chi tiết đi kèm với nó) là mang tính tâm lí học thuần túy: đó là sự tăng lên của tiếng nói được quay và thu theo một chuyển động chậm.
b) Tiếng nói phát ra từ lưỡi (105) đôi hàm chỉ là những cánh cổng. Nó không phát ra từ răng: bản thân tiếng nói sắp sửa bật ra không thuộc âm răng không từ bên ngoài không được văn minh hoá (tính chất âm răng mang trọng âm là một dấu hiệu của “sự khác biệt” trong phát âm) mà là từ bên trong từ phủ tạng từ cơ bắp. Văn hóa định giá trị cho cái sạch sẽ cho cái thuộc về xương cho tính khác biệt cho sự sáng sủa (những tính chất thuộc về răng).[35] Tiếng nói của chết chóc nổi lên từ tính chất “đặc quánh” và sền sệt từ cơ bắp bên trong như lớp đá mắc ma nóng chảy từ sâu thẳm. Về mặt cấu trúc ở đây chúng ta có một khâu đoạn của mã biểu tượng.

viet

tiếp

IV. Thỏa thuận: P. dự tính với M. Valdemar rằng sẽ thôi miên ông ta khi ông ta tiến đến ngưỡng của cái chết (bởi P. biết ông ta sẽ chết) và M.V. chấp nhận. Có một thỏa thuận giữa đối tượng và nhà thí nghiệm: các điều kiện đề nghị chấp nhận các điều khoản của hợp đồng quyết định thi hành thông báo chính thức trước các bác sĩ (điểm cuối này thiết lập nên một chuỗi thứ cấp).
V. Chứng giữ nguyên tư thế [Catalepsy][32] (bảy tháng trước thời điểm trần thuật một ngày thứ Bảy lúc 7h.55 sáng): những thời khắc cuối cùng của M.V. đã đến và nhà thí nghiệm được chính bệnh nhân báo cho biết P. bắt đầu tiến hành thôi miên trong lúc hấp hối[33] theo đúng với Chương trình và với Thỏa thuận. Chuỗi này có thể được mang tiêu đề Chứng giữ nguyên tư thế. Cùng với các khâu đoạn khác nữa nó bao gồm: những cái huơ tay để thôi miên những sự kháng cự của đối tượng những dấu hiệu của trạng thái giữ nguyên tư thế sự kiểm tra của nhà thí nghiệm sự xác minh của các bác sĩ (các hành động của chuỗi này kéo dài 3 giờ: lúc đó là 10h.55).
VI. Cuộc thẩm vấn I (Chủ nhật 3h sáng): P. dùng phép thôi miên để thẩm vấn M.Valdemar bốn lần. Trả lời của M.Valdemar khi bị thôi miên rất thích hợp để xác định mỗi chuỗi thẩm vấn. Trong lần thẩm vấn thứ nhất này câu trả lời là: Tôi đang ngủ (các chuỗi thẩm vấn theo đúng chuẩn tắc bao gồm thông báo cho câu hỏi câu hỏi sự trì hoãn hoặc kháng cự lại trả lời và việc trả lời).
VII. Cuộc thẩm vấn II: cuộc thẩm vấn này diễn ra ngay sau cuộc thứ nhất. Lúc đó M.Valdemar trả lời: Tôi đang hấp hối.
VIII. Cuộc thẩm vấn III: nhà thí nghiệm thẩm vấn lại một lần nữa M.Valdemar bị thôi miên và đang hấp hối (“ông vẫn ngủ chứ?”). Ông ta trả lời bằng việc nối lại với nhau hai câu trả lời đầu mà ông đã thực hiện: Tôi đang ngủ tôi đang hấp hối.
IX. Cuộc thẩm vấn IV: P. cố thẩm vấn M.V. thêm một lần thứ tư nữa. Ông lặp lại câu hỏi của mình (M.V. sẽ trả lời điều đó bắt đầu từ đơn vị đọc 105 xem dưới đây).
Chúng ta đi tiếp đến cái vị trí trong truyện kể nơi chúng ta sẽ tiếp tục phân tích theo phương pháp văn bản với từng đơn vị đọc. Xen vào giữa Cuộc thẩm vấn III và bắt đầu của việc phân tích là một khâu đoạn quan trọng trong chuỗi “Cái chết về mặt y học”: đây là chứng hoại thư của M.Valdemar (101-102). Xét từ góc độ y học M.Valdemar dưới sự thôi miên từ thời điểm này trở đi đã chết. Chúng ta biết rằng gần đây dưới tác động của những cấy ghép hữu cơ sự chẩn đoán về cái chết lại được bàn đến: ngày nay người ta cần sự chứng thực của máy ghi điện não đồ. Để chứng thực cái chết của M.V. Poe đã tập hợp (trong 101 và 102) tất cả các dấu hiệu lâm sàng mà ở thời đại ông chúng chứng thực về mặt khoa học cho cái chết của một người bệnh: cặp mắt mở và đảo ngược da tái nhợt như xác chết những điểm phồng rộp bị tắt lịm hàm dưới hạ xuống và lỏng ra lưỡi xám xịt toàn thân biến dạng ghê tởm khiến cho các trợ lí phải lùi xa ra khỏi giường (một lần nữa cần chú ý sự gắn kết của các mã: tất cả những dấu hiệu y học này cũng là những yếu tố gây kinh hãi hay đúng hơn sự kinh hãi luôn luôn được đưa ra dưới bằng chứng khoa học khách quan: mã khoa học và mã biểu tượng được hiện thực hóa cùng một lúc theo một cách thức bất xác quyết).
M.Valdemar đang chết về mặt y học truyện kể sẽ phải kết thúc: cái chết của nhân vật (ngoại trừ trong trường hợp có một sự phục sinh tôn giáo) đóng lại câu chuyện. Chủ đề mới của giai thoại (nổi lên từ đơn vị đọc 103) xuất hiện ngay sau đó như là một tất yếu tự sự (để văn bản tiếp tục) và một vụ xì căng đan hợp logic. Vụ xì căng đan này là của phần bổ sung: để có thể bổ sung cho truyện kể phải có sự bổ sung của sự sống: một lần nữa truyện kể lại miêu tả về sự sống.

viet

tiếp

Phân tích hành động các đơn vị đọc từ 18 đến 102
Trong tất cả những nghĩa hàm ẩn mà chúng ta đã đối diện hay ít nhất đã ghi nhận trong phần mở đầu truyện kể của Poe chúng ta đã có thể vạch rõ được một số yếu tố xác định như là các khâu đoạn đang tiến triển của chuỗi hành động tự sự. Ở cuối bài luận tôi sẽ trở lại với các mã khác nhau đã được phân tích thấu đáo đặc biệt là đối với mã hành động. Nhưng trước khi giải quyết sáng tỏ bình diện lí luận này chúng ta có thể chia tách các chuỗi hành động này và sử dụng chúng để giải thích một cách thuận lợi (dẫu vậy trong khi đó vẫn bảo toàn ý nghĩa về mặt cấu trúc nơi những nhận xét của chúng tôi) những gì tiếp diễn trong truyện kể. Trên thực tế chúng ta cần hiểu rằng không thể phân tích chi li (mà vẫn kém thấu đáo hơn) toàn bộ truyện kể này của Poe: nó hẳn là quá dài. Tuy nhiên chúng tôi vẫn định tiếp tục phân tích theo phương pháp văn bản một số đơn vị đọc ở đoạn kết của tác phẩm (đơn vị đọc từ 103 đến 110). Để kết nối cái đoạn mà chúng tôi đã phân tích với đoạn sẽ phân tích trên cấp độ của tính dễ hiểu thiết nghĩ để cho đầy đủ thì cần phải chỉ ra những chuỗi hành động chính yếu được tạo dựng và phát triển (nhưng không nhất thiết là kết thúc) giữa đơn vị đọc 18 và đơn vị đọc 102. Thật đáng buồn với những lí do về mặt không gian chúng tôi không thể đưa ra cái phần văn bản của Poe chia tách hai phân đoạn mà chúng tôi phân tích thậm chí cũng không thể đánh số các đơn vị đọc trung gian. Chúng tôi chỉ đưa ra các chuỗi hành động (hơn nữa cũng chẳng thể trình bày các chi tiết theo từng khâu đoạn) xét trong mối liên hệ về mặt chi phí[30] của các mã khác các mã này có số lượng lớn hơn và hẳn là thú vị hơn về cơ bản là bởi như vẫn được quan niệm những chuỗi này thiết lập nên bộ khung có tính chất giai thoại của truyện (tôi sẽ có một ngoại lệ nhỏ dành cho mã niên biểu với việc một chú thích đầu hoặc cuối để chỉ ra cái vị trí trong truyện kể nơi khởi đầu của mỗi chuỗi được đặc định).
I. Chương trình: chuỗi đã bắt đầu và hiện diện phần lớn trong đoạn được phân tích. Được gợi lên bởi cuộc thí nghiệm được trù tính các khó khăn đã được nhận ra. Chuỗi tiếp tục tiến trình của nó và đóng lại với sự lựa chọn đối tượng (người bệnh) cần cho cuộc thí nghiệm: đây sẽ là M.Valdemar (dự định của chương trình xuất hiện 9 tháng trước thời điểm trần thuật).
II. Thôi miên (hay đúng hơn nếu cái từ mới được sáng tạo rất nặng nề này được chấp nhận: khả năng bị thôi miên [hypnotizability]). Trước khi chọn M.Valdemar làm đối tượng cho cuộc thí nghiệm P. đã kiểm tra tình trạng dễ bị thôi miên của ông ta. Nó tồn tại nhưng các kết quả tuy vậy dễ gây nhầm lẫn: sự tuân phục [theo chỉ đạo của người làm thôi miên] của M. V[31] mang theo một số sự ngáng trở. Chuỗi đã liệt kê ra các khâu đoạn của bài kiểm tra này cái được thực hiện trước khi cuộc thí nghiệm được quyết định dựa trên cơ sở đó và trạng huống niên biểu của bài kiểm tra không được xác định một cách chính xác.
III. Cái chết về mặt y học: các chuỗi hành động rất hay bị kéo dài ra đan bện với các chuỗi khác. Bằng việc báo cho chúng ta biết về tình trạng sức khỏe tồi tệ của M.V và về chẩn đoán của các bác sĩ rằng cái chết là khó tránh khỏi truyện kể đã chia tách một chuỗi rất dài chiếm gần như toàn bộ độ dài của truyện và sẽ được kết thúc chỉ bằng đơn vị đọc cuối cùng (150) với sự hóa lỏng của cơ thể M.V. Các tiết đoạn (của chuỗi này) là rất nhiều được đặt đan xen nhau tuy nhiên rất logic về khoa học: sức khỏe ốm yếu chẩn đoán hết hi vọng cứu chữa tình trạng xấu đi thể xác đau đớn cực độ chứng hoại thư (những dấu hiệu vật chất của cái chết) – chính tại thời điểm này của chuỗi sự phân tích theo phương pháp văn bản lần thứ hai của chúng tôi sẽ được đặc định – sự phân hủy sự hóa lỏng.