tôi là con người

TÔI LÀ CON NGƯỜI NÊN TẤT CẢ NHỮNG GÌ THUỘC VỀ CON NGƯỜI KHÔNG BAO GIỜ XA LẠ VỚI  TÔI.

hotinhtam

gởi Huy Tập

Chào anh Huy Tập!

Tôi vẫn chưa tìm được nguyên bản bài thơ "anh đi anh nhớ quê nhà" nhưng như anh nói bốn câu ca dao nổi tiếng ấy là của cụ Á Nam Trần Tuấn Khải thì tôi tin hoàn toàn.

Cám ơn anh đã thông tin cho tôi!

Chúc anh một ngày mới thật vui!

hotinhtam

gởi Huy Tập

Phong dao là một trong những cống hiến đăc sắc của Á Nam Trần Tuấn Khải. Hồn ca dao của dân tộc đã thấm sâu vào “anh Khóa” bình dân khiến cho thi sĩ viết ra những bài ca như của một chị “nhà quê” một anh trai cày đích thực:

Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương

Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

Bút quan hoài I

hay:

Rủ nhau xuống bể tìm cua([xii])

Đem về nấu quả mơ chua trên rừng

Em ơi chua ngọt đã từng

Non xanh nước bạc xin đừng quên nhau

Duyên nợ phù sinh

Từ thi pháp cho đến tâm tình đều thấm nhuần lời ăn tiếng nói ca dao của người nông dân Việt Nam. Trách chi nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan lại chẳng lầm mà đưa hai bài ấy vào mục ca dao về “Tình yêu nam nữ” trong công trình Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của ông. Ngoài hai bài ấy ra Á Nam còn nhiều bài phong dao khác nữa mà khi để cạnh ca dao người ta khó có thể phân biệt được đâu là Á Nam và đâu là dân gian:

- Vành giăng ai xẻ làm đôi

Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng

Đưa nhau một bước lên đàng

Cỏ xanh hai dãy mấy hàng châu sa.

- Bướm kia sao nỡ lìa hoa

Chim xanh sao nỡ bay xa vườn hồng

Ai đi muôn dặm non sông

Để ai thương nhớ sầu đong một mình

Thơ Nguyễn Du cũng đã từng được những người dân quê nghĩ là lời ca của mình. Ngược lại trong thơ Nguyễn Du cũng có không ít những lời “tang ma ngữ” lời của người hái dâu dệt vải. Ở Á Nam cũng vậy. Á Nam đã hòa tiếng thơ của mình số phận của mình vào với nhân dân: ông đã làm người xẩm mù hát rong nỗi lòng của nhân dân như Homère đã làm với Iliat Bạch Cư Dị đã làm với Tì bà hành Trường hận ca…

Thi sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải đã xa chúng ta nhưng tên tuổi của ông cùng với nhiều bài thơ của ông đã hóa thân vào với nhân dân và bất tử cùng với dân tộc.

hotinhtam

Tiểu sử Trần Tuấn Khải

Trần Tuấn Khải người làng Quan Xán huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định. Xuất thân là nhà nho nghèo có truyền thống yêu nước. Cha ông là Trần Khải Thụy đỗ cử nhân khoa thi Hương tại Nam Định năm Canh Tý (1900). Năm lên 6 tuổi ông bắt đầu học chữ Hán với cha. Nhờ mẹ ông cũng là người thuộc nhiều ca dao thi phú lại hết lòng dạy dỗ con vì vậy mới 12 tuổi ông đã biết làm đủ các thể thơ bằng chữ Hán.

Năm Giáp Dần (1914) cha ông lâm bệnh mất tại nơi nhiệm sở. Khi ấy Trần Tuấn Khải vừa đúng 19 tuổi và cũng vừa lấy vợ được một năm. Qua năm 1919 ông trở lại làng Quang Xá dạy học được ít tháng ông lại xuôi ngược khắp miền Bắc rồi đưa vợ ra Hà Nội. Nhưng ít lâu sau thấy chồng ghét cảnh náo nhiệt bà Khải bán nhà đến mua một trang trại ở ấp Thái Hà ven đô Hà Nội.

Năm 1921 ông xuất bản tập thơ thứ nhất Duyên nợ phù sinh I được giới văn chương đương thời chú ý. Năm sau ông được mời vào Ban biên tập nhật báo Khai Hóa tại Hà Nội và nhận lời viết giúp cho nhiều báo khác. Đến khi ông cho xuất bản Bút quan hoài I gồm nhiều bài bi tráng được nhiều người hoan nghinh thì Pháp ra lệnh cấm lưu hành và tàng trữ tập thơ đó (1927).

Mấy lần Trần Tuấn Khải định xuất dương mà không thành: 1915-1916: dự định qua Đông Hưng (Trung Quốc) 1927: dự tính sang Pháp. Nhà cầm quyền Pháp dò la biết ông có ý định trên đồng thời có đến liên hệ các nhà cách mạng như Phan Bội Châu Huỳnh Thúc Kháng ở Huế và những nhà hoạt động lưu vong như Đào Trinh Nhất Hoàng Tích Chu Trần Huy Liệu Nguyễn Trường Tam ở Sài Gòn...nên cho người lùng bắt ông. Nhờ có người báo tin ông lẻn ra ẩn trốn nơi động Huyền Không trong dãy Ngũ Hành Sơn (Quảng Nam).

Năm 1932 tác phẩm Chơi xuân năm Nhâm Thân được xuất bản nhưng ngay sau đó bị Pháp ra lệnh tịch thu khám nhà rồi bắt giam Trần Tuấn Khải và chủ nhà sách Nam Ký. Ông bị giam hơn 2 tháng rồi bị kêu án 2 tháng tù treo về tội viết sách "phá rối trị an xúi dân nổi loạn". Trong nhà giam Hỏa Lò Trần Tuấn Khải gặp được Nghiêm Toản và nhiều nhà tri thức có tâm huyết khác [1].

Ra tù vợ chết con nhỏ chết. Chôn cất vợ con xong ông trở về Thái Hà lại bắt viết bài cho các báo. Năm 1938 ông cưới người vợ thứ họ Nguyễn.

Năm 1954 ông di cư vào Nam làm việc tại Thư viện quốc gia Viện Khảo cổ chuyên viên Hán học tại Nha văn hóa và các báo Đuốc Nhà Nam Văn hóa nguyệt san Tin văn...

Năm 1966 ông cùng một số trí thức tiến bộ ký tên yêu cầu chính quyền Việt Nam Cộng hòa trực tiếp hiệp thương với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam nhằm vãn hồi hòa bình nên bị buộc nghỉ việc[2]. Sau đó ông là chủ tịch danh dự lực lượng bảo vệ văn hoá dân tộc năm 1966 – 1967[2].

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 ông giữ chức cố vấn Hội Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh từ 1975 cho đến khi mất vì bệnh già tại cư xá Trần Quốc Toản (cư xá Liautey của Pháp) hưởng thọ 88 tuổi (1983).
[sửa]

hotinhtam

tiếp theo

Xẻ yếm may cờ dù thoả chí
Kiếp này khỏi phụ với cha ông
(“Trường thán thi”)

Tuốt gươm thề với thương thiên
Phải đem tâm huyết mà đền cao sâu.
Gan tráng sĩ vững sau như trước
Chí nam nhi lấy nước làm nhà.
Tấm thân xẻ với sơn hà
[…]
Nữa mai mốt giết xong thù nghịch
Mũi Long Tuyền rửa sạch máu tanh.
Làm cho động đất trời kinh
Bấy giờ quốc hiển gia vinh có ngày.
(“Hai chữ nước nhà”)

Á Nam Trần Tuấn Khải truyền cho người đọc người nghe niềm tự hào về thắng cảnh danh lam của đất nước truyền cho ngươi đọc người nghe cả niềm tin nữa:

Rủ nhau thăm cảnh Kiếm hồ
Thăm cầu Thê Húc thăm chùa Ngọc Sơn.
Đài Nghiên Bút Tháp chưa mòn
Hỏi ai tô điểm nên non nước này?
(“Phong dao”)

Viết “Con hoàng anh” “Mắng bù nhìn” “Hỡi cô bán nước” ông phê phán cảnh tỉnh bọn người làm tay sai cho giặc. Ông nói lên nỗi nhục của người dân mất nước:

Nô nức đua nhau hội với hè
Văn minh Nam Việt tiến mau ghê!
Nhảy đầm ăn tiệc ông Tây sướng
Liếm chảo leo đu đứa trẻ mê!!!
Trời nắng lợi riêng phường bán nước
Bụi lầm khổ chết lũ buôn xe.
Anh mù nỏ biết trò chi cả
Cứ bập bùng bung cứ cò ke...
(“Xem hội Tây”)

Hồi ấy những bài thơ của Á Nam Trần Tuấn Khải như “Gánh nước đêm” “Tiễn chân anh Khoá xuống tàu” “Mong anh Khoá” là những bài thơ quen thuộc với công chúng ở thành thị và cả ở nông thôn bởi những bài thơ này đã theo chân những người hát sẩm đến các nhà ga bến xe bến tàu và về các vùng quê. Cùng với Bể thảm của Đoàn Như Khuê những bài thơ ấy của ông đã gieo vào lòng người nỗi buồn “quốc phá gia vong” tương lai mờ mịt anh hùng tận lộ nhưng đồng thời cũng vì vậy mà nhắc nhở mọi người Việt Nam không quên nước thấm thía nỗi nhục mất nước...

Đọc Á Nam Trần Tuấn Khải độc giả bắt gặp trong thơ ông cái tôi nội cảm (le moi intérieur). Cái tôi nội cảm này man mác trong những bài thơ thể hiện lòng yêu nước của thi nhân và nổi rõ trong những bài thơ bộc lộ cái nhìn ái ân phong tình của ông đối với con người và những hiện tượng trong thực tại như trong bài thơ:

Hiu hắt phòng thu nhớ cố nhân!
Nhớ cô hàng quạt chợ Đồng Xuân.
Tờ mây phong kín lời sơn hải
Tin gió bay tàn lửa ái ân.
Hương hoả ba sinh tình khắc cốt
Can tràng trăm đoạn lúc rời chân.
Thói đời nóng lạnh coi mà ngán
Hiu hắt phòng thu nhớ cố nhân.
(“Nhớ cô hàng quạt”) [5]

và trong những bài phong dao chẳng hạn

Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương.
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao!

Như vậy cái tôi nội cảm ấy của Á Nam Trần Tuấn Khải vừa là “bút quan hoài” vừa là “duyên nợ phù sinh”.

Thơ của Á Nam Trần Tuấn Khải là sự thể hiện tràn đầy quan niệm nghệ thuật của ông:

Đời không duyên nợ thà không sống
Văn có non sông mới có hồn.

Lúc bấy giờ Á Nam Trần Tuấn Khải Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu và nhiều thi sĩ Việt Nam khác “đua nhau viết những bài thơ bài ca thể thức dân gian: sa mạc bồng mạc hát sẩm hát điên những bài lục bát hay song thất lục bát… song song với những bài thơ theo lối cổ phong hay luật Đường” [6] .

Thơ của Á Nam Trần Tuấn Khải và thơ của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu man mác một hồn thơ dân gian một tình điệu Việt Nam.

Trong những năm 1920 thơ của Á Nam Trần Tuấn Khải và thơ của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đang đi trên con đường biến đổi dần dần thơ truyền thống Việt Nam; con đường ấy và con đường hiện đại hoá thơ Việt Nam của trí thức Tây học là cùng một hướng…

Đà Lạt 6/2006

hotinhtam

vế Á Nam Trần Tuấn Khải

Lê Chí Dũng
Á Nam Trần Tuấn Khải – nhà thơ của dòng văn học yêu nước trong những năm 1920
Sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất thực dân Pháp thực hiện cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai thay chính sách đồng hoá (politique d’assimilation) bằng cái gọi là chính sách hợp tác (politique d’association) mở ra những lỗ thoát hơi cần thiết (soupapes nécessaires) về chính trị kinh tế xã hội giáo dục văn hoá trong đó có việc cho những nhân viên văn hoá cổ động “xây đắp nền quốc văn” như một thứ “chủ nghĩa ái quốc bằng quốc ngữ” mơn trớn lôi kéo cả cựu học lẫn tân học lái thanh niên trí thức chỉ vào một nẻo đường: “Các nước Âu Mỹ trọng các nhà văn sĩ hơn các bậc đế vương vì cái công nghiệp tinh thần còn giá trị quý báu và ảnh hưởng sâu xa hơn là những sự nghiệp nhất thời về chính trị” [1] . Một cuộc thay đổi mà bất cứ một cuộc bể dâu nào trước đây cũng không thể so sánh đã xảy ra ở Việt Nam.

Tình hình như vậy trong những năm 1920 thúc đẩy mạnh mẽ việc hiện đại hoá văn học nước nhà theo hai con đường – con đường thay đổi dần dần văn học trung đại Việt Nam để tiến đến văn học hiện đại và con đường xây dựng ngay nền văn học hiện đại; trên hai con đường hiện đại hoá văn học đó văn học Việt Nam đều thu được những thành tựu.

Trong những năm 1920 hồi quang rực rỡ của văn học các nhà chí sĩ soi sáng dẫn dắt dư luận xã hội xung quanh các sự kiện: đả kích Khải Định; ca tụng Phạm Hồng Thái; chống những luận điệu lừa mị có lợi cho trật tự của chế độ thuộc địa rằng “vấn đề quan trọng bậc nhất trong nước ta hiện nay là vấn đề văn quốc ngữ” và rằng “chữ quốc ngữ ấy chính là cái bè từ cứu vớt bọn ta trong bể trầm luân vậy” [2] đưa thanh niên trí thức ra khỏi ảo mộng “ỷ Pháp cầu tiến bộ” “Pháp Việt đề huề”; đấu tranh đòi ân xá Phan Bội Châu và để tang Phan Châu Trinh. Hồi quang rực rỡ của văn học các nhà chí sĩ đã kích hoạt sự trỗi dậy mạnh mẽ của dòng văn học yêu nước…

Trong những năm 1920 những văn phẩm của Nguyễn Ái Quốc được viết bằng tiếng Pháp “chọc thủng lưới sắt” của thực dân về Việt Nam. Một lớp thanh niên trí thức giác ngộ tư tưởng cách mạng xã hội chủ nghĩa sáng tác thơ ca không chỉ để thể hiện cái tôi trữ tình tươi mới mãnh liệt của mình mà còn để thuận lợi truyền bá một đường lối cứu nước tất thắng vào công nông vào nhân dân đông đảo. Trong bối cảnh chính trị xã hội văn hoá văn học nhiều chiều và phức tạp như vậy thanh niên trí thức trong đó có những người cầm bút sáng tác văn chương phân hoá theo nhiều ngả “người sang Pháp người sang Liên Xô người chui vào bí mật người xoay ra làm ăn theo lối bình thường” [3] .

Đặt Á Nam Trần Tuấn Khải trong bối cảnh như đã trình bày ở trên nhà nghiên cứu có thể hiểu rõ và đánh giá đúng sáng tác thơ của ông trong những năm 1920: Duyên nợ phù sinh I (in lần đầu 1921; Hương Ký xuất bản Hà Nội 1928); Duyên nợ phù sinh II (Chân Phương xuất bản Hà Nội 1923); Bút quan hoài I (tức Duyên nợ phù sinh III được viết từ năm Nhâm Dần 1926; Hương Ký xuất bản Hà Nội 1934); Bút quan hoài II (được viết trong những năm 1926 1927; in năm 1927); Hồn tự lập I 1926; Hồn tự lập II 1927; Trường thán thi (10 khúc được viết năm 1926; in trong Sách chơi năm Nhâm Thân 1932) [4] .

Sáng tác thơ của Á Nam Trần Tuấn Khải nằm trong dòng văn học yêu nước những năm 1920 mà đội ngũ của nó hết sức đông đảo: Đoàn Như Khuê Tản Đà Bùi Kỷ Nguyễn Phan Lãng Nguyễn Can Mộng Võ Liêm Sơn Phạm Tuấn Tài Trần Huy Liệu Phạm Tất Đắc Nguyễn Xuân Lãm Đạm Phương Nguyễn Trung Khuyến Vị Bắc Giang Hồ Du Tử Vũ Khắc Tiệp Tao Đàn Sầm Phố Trần Ngọc Hoàn Nguyễn Văn Áng Nguyễn Hi Chu Dương Bá Trạc Đông Bình Phạm Văn Cung Lê Hoa Giả Ẩn Nguyễn Thúc Khiêm Nguyễn Tử Siêu v.v... và v.v... “Ông già bến Ngự” cũng hoà giọng của mình trong dòng văn học yêu nước này.

Trên văn đàn lúc ấy nổi lên những bài thơ vịnh sử ngợi ca những anh hùng chống xâm lăng; những bài thơ vịnh vật phê phán bọn bán nước cầu vinh; những bài thơ phơi bày nỗi nhục nhã của người dân vong quốc nô; những tiểu thuyết lịch sử: Tiếng sấm đêm đông Vua Bố Cái Đinh Tiên Hoàng Lê Đại Hành.

Trong phong trào rộng lớn sáng tác văn chương yêu nước như vậy Á Nam Trần Tuấn Khải đã viết trên chục bài thơ vịnh sử như “Chơi thành Cổ Loa” “Qua nhà Giám” “Đề đền vua Hùng” “Thăng Long hoài cổ” “Đề tượng vua Lê” “Trường thán thi” “Hai chữ nước nhà”… Đọc những bài thơ này của ông độc giả ghi vào lòng những câu thơ gan ruột của thi nhân:

hotinhtam

gởi Cát Biển

Chào Cát Biển!

Clip này là hình ảnh gia đình Mai Thị Giúp và Mai Thị Đỡ tại Vàm Cống Lấp Vò Đồng Tháp. Ngày 15.5.1975 anh cùng tổ Chính trị tiểu đoàn về đóng quân tại đó. Lúc ấy ông bà ngoại của Giúp con sống nhưng khi anh cùng nhà văn Lê Đình Bích đến thăm thì ông ngoại của Giúp đã qua đời chỉ còn lại bà ngoại 101 tuổi mà em thấy trong hình.
Sau mấy tháng đóng quân(với tư cách quân quản) tại nhà Giúp trung đoàn điều anh sang làm đại đội trưởng đại đội độc lập của trung đoàn anh chuyển sang sống tại nhà ba chồng của Giúp. Vì vậy tình cảm giữa anh với gia đình của Giúp rất sâu nặng.
Lúc bà ngoại Giúp qua đời(102 tuổi) Giúp có gọi điện cho anh nhưng anh vì công việc không về được. Đêm qua anh xem lại clip này và post lại cho đỡ nhớ. Coi như cũng là lời tạ lỗi của anh.

Chúc Cát Biển ngày mới thật vui!

Huy Tập

Gửi Hồ tinh Tâm

Tôi có đọc sâu vào trang nhà anh thấy mấy câu " anh đi anh nhớ quê nhà..." Anh nói là không biết của ai chỉ chắc rằng đi ra từ phía Bắc nước ta. Tôi nhớ không nhầm thì đó là trong một bài thơ dài của Á Nam Trần tuấn khải người Nam định anh ạ.

catbien

Ngày mới

Sớm mai thăm anh xem một video clip thật ấm cúng tình cảm.
Chúc anh ngày mới nhiều niềm vui!