Mười hai ngày

Chiến tranh hiện đại là chiến tranh của tốc độ. Tốc độ đẩy mọi chuyện vừa xảy ra trở thành kỷ niệm trong phút chốc. Cái tồn tại là tiếng khóc trẻ thơ rung cả hầm phòng không. Cái tồn tại là cả “thành phố sống dưới vòng bay của giặc”. Đó là những vòng bay gieo chết chóc ở khắp nơi.

MƯỜI HAI NGÀY

(trích chương 5- “Những năm tháng không yên”)

Xuân Quỳnh

Trên cửa đóng ghi những hàng chữ phấn

Tôi không còn mong nhận một dòng thư

Người chen nhau trên những chuyến ô tô

Những mì sợi những bếp đèn dầu hỏa

Rạp chiếu bóng đã mấy ngày đóng cửa

Mới về nhiều tên lửa dưới hàng cây

Mắt người lo theo dõi màu mây

Tối thứ bảy buổi phát thanh cảnh giác…

Chuyện vừa qua đã thành kỷ niệm

Như ngôi chùa cửa khép như màu hoa

Khi căn hầm rung tiếng khóc trẻ thơ

Thành phố sống dưới vòng bay của giặc

B52 gầm lên điên loạn

Bom ở An Dương bom ở Thuyền Quang

Khắp không gian sặc sụa khói bom

Suốt đêm tối thâm quầng con mắt thức

Tin đài báo máy bay rơi từng phút

Trong nội thành và ngoại ô

Anh

Lúc này anh đã đi xa

Hết nỗi lo em trong vòng sống chết

Cửa đã khóa và ánh đèn đã tắt

Mười hai ngày cùng tận của niềm đau

Cô Ngọc Tường chết ở Bạch Mai

Chiếc áo cưới thay cho vải liệm

Gió dông bắc thổi qua nền gạch vụn

Trên máu người bị giết ở Khâm Thiên

Con búp bê mặc váy vải màn

Nén hương gãy miếng cau khô rải rác…

Dẫu trong em một tình yêu đã mất

Em không còn đủ sức nghĩ về anh!

1972 – 1973

Lời bình:

“Mười hai ngày” là chương 5 của bài thơ 7 chương có tựa đề: “Những năm tháng không yên”. Đó là những năm tháng Hà Nội luôn chìm trong tiếng còi báo động. Không ai có thể yên được vào thời gian đó. Lại càng không thể yên được trong suốt 12 ngày giặc Mỹ điên cuồng tập kích thủ đô bằng siêu pháo đài bay B52 bằng máy bay cánh cụp cánh xòe F111.

Xuân Quỳnh không hề có ý định tái hiện không gian hào hùng của trận Điện Biên Phủ trên không lớn nhất trong lịch sử chiến tranh của dân tộc. Cái mà chị nhắm tới là cảm nghĩ và tâm tưởng về những mất mát có thật những nỗi đau và lo lắng có thật của chị của người dân Hà Nội.

Tám câu đầu là bức tranh phác thảo về những năm tháng không yên của người dân Hà Nội. Vừa trống vắng vừa chật chội. Những ngôi nhà khóa cửa. Những con người chen chúc. Từ những cái lặt vặt như mì sợi bếp dầu đến những cái to lớn như tên lửa tất cả đều đập vào mắt người nỗi lo về cuộc chiến đã được kẻ thù phát triển lên đến đỉnh điểm. Ai từng sống vào thời điểm đó đều thấy rất rõ rằng dù có muốn nói tốt về chiến tranh bao nhiêu cũng không thể nói được.

Chiến tranh hiện đại là chiến tranh của tốc độ. Tốc độ đẩy mọi chuyện vừa xảy ra trở thành kỷ niệm trong phút chốc. Cái tồn tại là tiếng khóc trẻ thơ rung cả hầm phòng không. Cái tồn tại là cả “thành phố sống dưới vòng bay của giặc”. Đó là những vòng bay gieo chết chóc ở khắp nơi.

Xuân Quỳnh khái quát rất nhanh và rất gọn:

B52 gầm lên điên loạn

Bom ở An Dương bom ở Thuyền Quang

Khắp không gian sặc sụa khói bom

Suốt đêm tối thâm quầng con mắt

Tin đài báo máy bay rơi từng phút

Trong ngoại thành và ngoại ô

Những dòng thơ tuôn ra nhanh như những dòng thơ điện tử rất phù hợp với tốc độ khẩn trương của thời chiến. Lối viết ấy rất gần với thể nhật ký thơ chiến trận phóng sự thơ chiến trận. Chính vì vậy nó có được khả năng tác động rất nhanh và rất mạnh.

Anh

Lúc này anh đã đi xa

Hết nỗi lo em trong vòng sống chết

Cửa đã khóa và ánh đèn đã tắt

Mười hai ngày cùng tận của lòng đau

Cô Ngọc Tường chết ở Bạch Mai

Chiếc áo cưới thay cho vải liệm

Gió đông bắc thổi qua nền gạch vụn

Trên máu người bị giết ở Khâm Thiên

Trong đoạn thơ trên mọi nỗi đau đều có tên gọi cụ thể góp phần tạo nên sức mạnh tố cáo sức mạnh lên án tội ác. Những câu thơ viết rất mộc rất dơn giản; không hề có sự bận tâm làm bóng ngôn ngữ để soi gương giữa đời thường.

Không chỉ có con người bằng xương thịt phải chịu đựng. Đến con búp bê bằng nhựa cũng phải gánh chịu đau thương như con người. Bốn câu thơ cuối bỗng nhiên như chùng xuống trìu trĩu một niềm đau cắt cứa.

Con búp bê mặc váy vải màn

Nén hương gãy miếng cau khô rải rác…

Dẫu trong em một tình yêu đã mất

Em không còn đủ sức nghĩ về anh!

Điều bất ngờ chính là ở hai câu cuối. Đó là hai câu viết rất lạ rất thật rất xúc động. Chiến tranh là chiến tranh. Tình yêu là tình yêu. Một mối tình đã đổ vỡ. Đau đớn lắm trăn trở lắm. nhưng sự thật về những đau đớn mất mát do chiến tranh gây nên còn to lớn hơn nhiều; nó không chỉ vắt kiệt sức lực của con người nó vắt tới kiệt cùng luôn cả những suy tư về một cuộc tình đã mất. Nếu Xuân Quỳnh không thật lòng chị sẽ không bao giờ viết ra hai câu thơ ấy. Sự thật về tình yêu đổ vỡ của một người là qúa nhỏ bé trước sự thật lớn lao của lịch sử. Nhưng đối với một đời người sự đổ vỡ một cuộc tình là đau đớn lắm là lớn lao lắm cần phải nói ra lắm.

Mười hai ngày rung chuyển cả thủ đô cũng chính là mười hai ngày rung chuyển của một tâm hồn. Chương 5 được khép lại bằng nỗi đau trần thế rất thật của một tâm hồn. Chính điều đó càng làm cho ta xúc động.

Và… tôi… tôi chợt hiểu: sự mất mát của tình yêu bao giờ cũng đau đớn nhưng nếu mất mát ấy diễn ra trong chiến tranh thì nó lại càng bội phần đau đớn. Bởi vì chỉ trong giây phút thôi chiến tranh có thể cướp đi tất cả- cả lầm lỗi của tình yêu.

H.T.T.

Sonny

Knegdolwe wants to b

Knegdolwe wants to be free, just like these articles!