“MƯA BÓNG MÂY” của Trần Thôi

Tôi biết Trần Thôi đã lâu đọc văn chương của Trần Thôi đã nhiều nhưng với MƯA BÓNG MÂY của anh anh vẫn làm tôi ngỡ ngàng về sự trẻ trung duyên dáng hóm hỉnh và sự dày công kiếm tìm tư liệu dày công gia cố chi tiết và tình tiết cho tác phẩm.

“MƯA BÓNG MÂY”

MỘT TẤM LÒNG MỘT TẤM DUYÊN QUÊ

Hồ Tĩnh Tâm

Những năm cuối thập kỷ 20 Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Long gặt hái khá nhiều thắng lợi trong lĩnh vực sáng tác trong đó có lĩnh vực sáng tạo Văn học. Nổi bật là giải nhất cuộc thi ký Văn học do bưu điện tỉnh Cần Thơ tổ chức. Vượt qua hàng trăm bài ký nhà văn Trần Thôi đã giành được giải nhất cuộc thi với trị giá 10 triệu đồng và trị giá của sự sáng tạo không hề mệt mỏi cùng với trị giá của một tâm hồn một tài năng đang độ chín. Sừng sững với thành tích ấy đầu thiên niên kỷ thứ 3 Trần Thôi trình làng Văn chương tập truyện ký MƯA BÓNG MÂY.

MƯA BÓNG MÂY dày gần 240 trang do Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh chịu tách nhiệm xuất bản. Tập sách gồm 9 truyện ngắn viết một cách chững chạc duyên dáng hóm hỉnh và 6 bài ký Văn học viết một cách hoành tráng có chiều sâu nội tâm có giá trị lịch sử về một thời lịch sử đau thương oanh liệt nhưng đầy hào hùng của quê hương miền Nam thành đồng của tổ quốc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Tôi biết Trần Thôi đã lâu đọc văn chương của Trần Thôi đã nhiều nhưng với MƯA BÓNG MÂY của anh anh vẫn làm tôi ngỡ ngàng về sự trẻ trung duyên dáng hóm hỉnh và sự dày công kiếm tìm tư liệu dày công gia cố chi tiết và tình tiết cho tác phẩm.

MƯA BÓNG MÂY là tên của truyện ngắn cùng tên viết về đề tài chiến tranh và hiện tại. Diễn tiến truyện khởi đầu từ một chuyến tàu đêm với hai nhân vật là hai thương binh của hai cuộc chiến được phân chia bởi ngày 30 tháng tư năm 1975 lịch sử- tức là hai người lính của hai thế hệ mà họ có thể coi nhau như cha con. Người thứ nhất trở về nguyên vẹn sau 75 được cử ra nước ngoài học tập và trở thành cán bộ nghiên cứu. Người thứ hai là thương binh cụt một chân trong chiến tranh biên giới. Người thứ nhất về nhà thăm vợ con sau một thời gian đằng đẵng học tập ở nước ngoài. Người thứ hai là chàng thiếu úy trẻ măng chống nạng lên tàu về thăm người yêu. Họ ngồi cùng với nhau trên một băng ghế nhưng mỗi người lại mang nặng một niềm tâm sự khác nhau. Điểm chung của họ trong tâm tưởng là chiến tranh. Đó chính là xuất phát điểm của ý tưởng mà Trần Thôi muốn triển khai trong tác phẩm của anh. Từ ý tưởng ấy anh triển khai thành chiều sâu của các tuyến nhân vật để giúp người đọc nhận thức ra sự tàn nhẫn của chiến tranh đối với cuộc sống đích thực của mỗi một con người dám xả thân cho cuộc chiến. Mạch truyện cuốn hút cốt truyện gân guốc diễn biến truyện đầy bất ngờ; bút pháp lúc trầm lắng dằn vặt lúc duyên dáng dí dỏm; chân dung các thế hệ trong chuyện hiện ra rất khác nhau rất gần với tâm trạng thật của những con người thật sống trong những thời đại khác nhau. Bạn đọc muốn cảm hết cái hay của truyện thì không có cách nào khác là phải đọc đọc để khám phá các góc cạnh tâm hồn của tác giả dàn trải khá tinh tế sắc sảo trên từng trang giấy. Tôi tin chắc rằng mỗi thế hệ khác nhau trong chúng ta hôm nay đều có thể tìm thấy một góc riêng tư nào đấy của mình trong các tuyến nhân vật mà Trần Thôi đã dựng lên. Nhìn một cách tổng quát MƯA BÓNG MÂY là một truyện ngắn rất thành công về đề tài chiến tranh được tái hiện trong cuộc sống thời bình của chúng ta.

Cùng đề tài chiến tranh trong MƯA BÓNG MÂY còn có hai truyện khác là CÔ GIÁO LÀNG TÔI và CƠN MƯA. CÔ GIÁO LÀNG TÔI viết dàn trải theo không gian hai chiều; nghĩa là Trần thôi cũng đứng từ góc độ hôm nay tại một vùng quê hẻo lánh đầy thương khó để tái hiện cuộc chiến máu lửa với biết bao đau thương mất mát biết bao tình đời lắng đọng đến xúc động lòng người. Truyện viết như là sự gởi gắm tâm sự thiêng liêng của những người đã ngã xuống cho độc lập dân tộc cho hoà bình hạnh phúc cho những người đang sống như chúng ta hôm nay. Cái hay cái độc đáo là niềm tâm sự thiêng liêng ấy cứ càng lúc càng cháy lên da diết tới nao lòng tới trào nước mắt trong hai lá thư của một người cha đã qúa cố trong chiến tranh để lại cho con. Đó là tài sản duy nhất thiêng liêng nhất mà một người liệt sĩ anh hùng để lại cho con làm hành trang cho con bước vào đời dũng cảm dấn thân vào cuộc đời còn bề bộn những khó khăn rất thật trong thời bao cấp. Xoay quanh hai lá thư ấy tình đời cứ lần lượt hiện lên một cách lấp lánh lấp lánh dưới những mái nhà lợp lá dừa nước hiền như nấm rơm thơm như chuối chín mà gần gũi và thân thương với chúng ta biết ngần nào. Đọc xong nếu chúng ta thật sự là người nhất định chúng ta sẽ giật mình mà tự hỏi: Phải chăng hai lá thư ấy là di chúc của người cha gởi cho con? Hay đó chính là di chúc của thế hệ đi trước gởi lại cho chúng ta gởi lại cho thế kỷ mai sau?

Nếu CÔ GIÁO LÀNG TÔI viết một cách dàn trải thì CƠN MƯA lại viết rất cô đọng rất đầy tâm trạng. Hai căn nhà tập thể sát vách với nhau đang oằn oại vặn vẹo trong giông gió sấm chớp của một cơn mưa đêm sầm sập. Một căn là gia đình hai vợ chồng trẻ có đứa con đang say ngủ một căn là của người thiếu phụ góa chồng. Hai vợ chồng trẻ thức trong cơn mưa với những lo lắng cho đứa con cho căn nhà ọp ẹp xiêu vẹo và họ còn thức cho tình yêu và hạnh phúc tuổi trẻ của họ. Người thiếu phụ thức với tấm hình thờ người chồng soi lập lòe đốm lửa nhang lúc nào cũng chực tắt trong giông gió. Một bên là hiện thực của cuộc sống một bên là tâm trạng; cả hai vặn xoắn vào nhau hình thành nên da thịt và xương máu của cốt truyện dẫn dắt tâm linh của chúng ta vào cõi thẳm của cuộc đời. Và chúng ta cũng như tác giả chợt nhận ra rằng vào cái thời ấy đêm sao mà dài đăng đẳng mưa sao mà dai dẳng dầm dề!

Nhưng Trần Thôi không chỉ viết về đề tài chiến tranh một cách thuần túy- sự khôn ngoan và tài hoa của trần Thôi là ở đó. Anh không phải là người dấn thân trong cuộc chiến anh là người dấn thân trong hiện tại đất nước không còn tiếng súng. Dấn thân cho hôm nay nhưng anh vẫn cảm được sâu sắc cái giá của một thời lửa máu. Đó là nhân văn nhân bản là mầm lửa của một tài năng văn học trẻ đang từng bước được ngọn gió của thời đại thổi bùng lên thành tác phẩm có da có thịt có hồn. Tấm duyên quê của Trần Thôi nằm trong các truyện BÓNG QUÊ BẾN VẮNG LẶNG CHẢY MỘT DÒNG SÔNG BÀI CA TUỔI THƠ THÚ PHẠT. Đọc các truyện ấy ta bắt gặp làng quê của ta bạn bè của ta bà con của ta dì Ba dượng Bảy hàng xóm của ta… cả người tình thôn nữ của ta.

Trong BÓNG QUÊ ta bắt gặp một chàng Minh một cô Quyên giã từ xóm Chiếu lên thành phố. Họ không giã từ quê hương họ giã từ một nghề thủ công truyền thống đã mai một lụi tàn theo năm tháng của thời công nghiệp. Trẻ trung xinh đẹp hiền thảo và đầy nhân tính là bản chất của họ thế mạnh của họ; ấy vậy mà giữa chốn đô thành Minh phải bán số đề để sống để cưu mang gia đình ở quê; ấy vậy mà Quyên phải ôm ấp hầu hạ người ta uống bia để sống để cưu mang gia đình ở quê. Họ gặp nhau trên một chuyến xe đò họ nhận ra nhau nhờ kỷ niệm một thời tắm truồng nhồng nhổng trong mưa rào tháng hạ. Họ phải dối lòng nhau về công ăn việc làm. Nhưng rồi sự xao xuyến bổi hổi của duyên quê đã xúi họ tìm nhau nhận ra sự thật đau đớn của nhau. Đó là cái gút của truyện cái chua chát của sự thật làm nên thần khí đớn đau của truyện. Nhưng Trần Thôi không dừng lại ở đó bằng tấm lòng nhân ái vốn có của mình anh đã thổi vào truyện một luồng sinh khí để hóa giải tình yêu và cuộc đời cho họ. Cả hai đều thực hiện được nguyện vọng của mình theo kiểu nhân đôi của niềm đam mê rung động đầu đời. Trần Thôi kết có hậu theo lối văn chương cổ điển mà có thể Hồ Biểu Chánh là người ít nhiều có ảnh hưởng tới phong cách sáng tạo hồn hậu của anh.

Lối kết trong BẾN VẮNG thì lại khác. Sự trống vắng trong cô quạnh trong lầm lũi kiếm sống bằng gánh gióng chè bao nhiêu năm của Nhạn thốt nhiên xao động lăn tăn như gợn sóng mặt hồ khi cô nhận ra Khang đùa giỡn rất hồn hậu với thằng cu Tý của cô. Cô nhận lời cùng cha đi xem hát- không hẳn vì cô mê tuồng cải lương mà rất có thể vì lời mời của anh kép chính tên Khang. Hai cha con đi rất sớm để kiếm chỗ ngồi để chờ đợi; nhưng rồi tới chín giờ thì họ phải thất vọng ra về vì gánh hát không thể biểu diễn do chỉ có lèo tèo vài người được mời có mặt trong sân. Đêm đó Nhạn trằn trọc suy nghĩ vẫn vơ tới không ngủ được tới chợt nhận ra tiếng lòi tói khua rổn rảng dưới bến sông- ấy là lúc gánh hát dọn đồ để xuống ghe ra đi theo con nước tìm đất diễn. Nhạn chợt bừng tỉnh khi biết rằng Khang muốn chào cô một tiếng để ra đi nhưng lại sợ thằng Tý giật mình thức giấc tội nghiệp. Lặng lẽ như chiếc bóng cô một mình ra bến nước. “Nhưng thuyền đã nhổ neo rồi! Bến sông vắng lặng qúa”. Đọc tới đó tôi cũng thấy lòng mình sao mà vắng lặng lạ thường! Một đời nghệ sĩ tài hoa của sân khấu cải lương quốc hồn quốc túy ở đồng bằng châu thổ mà không kiếm đủ tiền ăn cho một ngày lưu diễn không có khách. Một đốm lửa lòng mới vừa rưng rưng ửng cháy đã lập tức hắt hiu vì gió ngoài bến vắng. Nước mắt của duyên quê lặn vào trang giấy.

Nước mắt của một thời xưa khổ nếu gom hết lại chắc cũng đủ thành một dòng sông lặng chảy. LẶNG CHẢY MỘT DÒNG SÔNG là khúc bi ca về cuộc đời về ngày tàn của một ông già mà lối xóm gọi nôm là Lục Vân Tiên. Ông già mát mát khùng khùng mà sao Nam Bộ quá! Làm ruộng giỏi nhứt xứ nhưng không bao giờ dư một hột lúa. Người ta ghi nợ cho ông bằng những gạch ngắn gạch dài. Gạch ngắn nửa lít gạch dài một lít; thi nhau bò lên từ gốc cột tới ngọn cột rồi nhào sang cột khác mà trườn nữa lên trườn nữa lên. Tới mùa chủ nợ phải tự mò ra ruộng mà xúc lúa tươi của ông Lục. Tuy có thua thiệt chút đỉnh nhưng không gạch cho ông Lục thì không được- coi chừng bị ông Lục mò vào buồng đá bực hủ rượu bể làm đôi thì làm sao mà xúc lúa tươi của ông cho được bởi ràng ràng là ông có uống giọt nào đâu mà gạch dài gạch ngắn. Mà ông Lục có làm hại gì ai. Ông như con chim báo nước cứ vào lối mười giờ đêm là ông bơi thuyền lang thang trên sông nước cùng với giọng ngâm LỤC VÂN TIÊN khào khào của ông già say rượu. Lúc đầu người ta không ngủ được vì giọng ngâm của ông nhưng về sau ông không ngâm thì người ta không tài nào ngủ được. Ông như cái đồng hồ dây thiều cót két rè rè báo giờ việc cho cả làng cả xóm. Trên sông thì ông ngâm trên ruộng thì ông thả diều; diều ông lớn bằng hai tấm đệm bàng cọng lại. Người ta thả diều bằng tay còn ông thả diều bằng cột tre cặm lút vào ruột đất. Sợi dây chì néo con diều của ông trên lồng lộng gió trời mà kéo điệu nhạc buồn ù u ù u xuống ruộng đồng giữa mùa trơ gốc rạ. Đó là trường bản ai điếu cho người đẹp Tuyết Hoa trường bản ai điếu cho một đảng cướp từng một thời lừng danh mà chính ông là đầu đảng- đảng cướp từng khiến địa chủ cường hào xanh mặt. Cái hay của truyện là nhân vật “Tôi” phải bỏ một tiệc rượu với bạn bè khi chợt nhận ra rằng ông Lục là một phần rất máu thịt của quê hương mà khi linh hồn ông đã thoát xác siêu phàm người ta mới chợt nhận ra.

BÀI CA TUỔI THƠ có thể coi là một truyện thiếu nhi dí dỏm viết tặng cho người lớn. Trái dưa leo nhỏ như đầu ngón tay là niềm hạnh phúc khám phá sự sinh trưởng thế giới của một đứa bé nhưng với người lớn thì chỉ là một món ăn giòn giòn ngọt ngọt. Trẻ con chưa từng được làm người lớn nhưng người lớn đã từng làm trẻ con thì lại chẳng hiểu một chút xíu gì về con trẻ. Đó là triết lý thứ nhất về một loại người có thật. Trẻ con có thể hồn nhiên tưởng tượng ra thần tiên gởi tặng mình một gói kẹo giấu đâu đó dưới gốc dưa leo nhưng người lớn thì lại thừa hiểu điều đó là không có thật; để giữ trinh nguyên niềm vui cho con trẻ người lớn thừa sức tìm cách làm cho điều đó thành sự thât. Đó là một triết lý thứ hai về một loại người có thật ở trên đời- cũng như ông già Nô En vừa rất thật lại vừa rất không thật vậy. Gói triết học nhân sinh trong một truyện rất ngắn như vậy không phải là chuyện dễ cho bất cứ một nhà văn nào.

Gịong văn và lối viết của Trần Thôi trong THÚ PHẠT giông giống với giọng văn và lối viết của Trần Kim Trắc nghỉa là nó nhè nhẹ nó vui vui nó hơi tưng tửng chút đỉnh. Cái làm tôi ngạc nhiên là ở chỗ tôi sống với Nam Bộ gần ba chục năm mà tôi không hề biết tới cái tục lệ “thú phạt” khi lỡ ăn cơm trước kẻng với con gái người ta. Còn lỡ như mình bây giờ trót dại với con gái nhà ai đó thì biết kiếm đâu ra một người như bà Chín Mập. Anh chàng tác giả này qủa là tinh ranh thật!

Ngược với THÚ PHẠT CHUYỆN HÔM QUA – CHUYỆN HÔM NAY lại viết với giọng văn rất nghiêm túc rất đỉnh đạc rất ra dáng một chính ủy làm công tác chính trị tư tưởng để yên lòng những người lính phục viên. Một ông Đức tiểu đoàn trưởng đánh giặc trời gầm nhưng lại tự thấy mình kém cõi chuyện làm ăn kinh tế trong đời thường sẵn sàng nhận bất cứ một việc gì miễn là có việc để làm. Một anh Nhiên nhát như cáy trong chiến trận bởi có tật sợ tiếng nổ truyền kiếp nhưng khi trở về với đời thường lại là một giám đốc có tài điều hành bẩm sinh biết quản lý cả xý nghiệp phát đạt làm nên ăn ra. Hai người ấy ngồi bên bàn rượu nhìn nhau nói chuyện với nhau suy ngĩ về nhau đã cho ta thấy sự suy gẫm của Trần Thôi về thế thái nhân tình về bản lĩnh thật của từng con người khác nhau trong cuộc sống.

Nếu ở truyện ngắn Trần Thôi gieo một gặt hai thì ỏ ký văn học anh lại gieo một gặt tới hai rưỡi tới ba. Bởi lẽ Trần Thôi viết ký rất nghiêm túc rất gia cố cho sự thật vốn thật lại càng thật hơn nhờ lối diễn đạt lối sắp xếp tình tiết chi tiết và bố cục trọn vẹn cho cả bài.

Đọc TIẾNG VỌNG THẦM THÌ mới đầu ta ngỡ là đang đọc truyện ngắn; nhưng chỉ sau vài trang là ta biết ngay mình nhầm; bởi thời gian địa điểm tên tuổi và nghề nghiệp từng người hiện lên cụ thể qúa chính xác qúa- ngay cả không gian tồn tại sự kiện sự việc cũng hiện lên rõ mồn một như chính nó đã từng tồn tại. Ấy vậy mà ta vẫn cứ tưởng như mình đang đọc truyện chứ không phải mình đang đọc ký. Thành công thứ nhất của Trần Thôi là ở đó.

Tùy bút văn học của Nguyễn tuân nổi tiếng là nhờ chất văn nhờ lối hành văn không giống ai. Bút ký văn học của Vũ Khiêu nổi tiếng là nhờ giọng văn làm cháy rực lên mọi góc cạnh của triết học. Tùy bút văn học của Chế Lan Viên cuốn hút người đọc cũng là nhờ chất văn mượt mà đầy cảm xúc mãnh liệt đầy trí tưởng tượng bay bổng của trí tuệ. Thế mạnh của Trần Thôi không thuộc về chất văn chương không thuộc về triết học và cũng không thuộc về trí tuệ bay bổng. Thế mạnh của anh thuộc về cách cảm vấn đề cách kể dung dị cách sắp xếp bố cục một cách tự nhiên thứ tự những vấn đề mà anh thâu lượm được theo thời gian theo người kể và theo hơi thở của cuộc sống một cách rất tự nhiên như là nó vốn có. Thái độ tỉnh rụi cùng với giọng cười khơ khớ hể hả của chú Út khi nhìn thấy ngôi nhà của mình bị cháy là y chang phong cách và bản lĩnh của một lão nông tri điền Nam Bộ khi biết rằng may mà mình đã kịp bán vợi đi cả trăm giạ lúa để mua pin khối cho anh em chạy đài phát sóng chứ không thì cả đống lúa hơn trăm giạ đã ra tro cùng với ngôi nhà. Trần Thôi chộp được chi tiết ấy là chộp được một chi tiết đắt giá để khắc họa thành công chân dung của một lão nông chiến sĩ. Hình như Trần Thôi rất săm se kiếm tìm tình tiết cho đến đầu đến đũa. Trong SÔNG NƯỚC GỢN BUỒN hình ảnh vợ chồng ông Chín Mập hiện lên rất rõ nét có thể cho ta thấy rõ rằng Trần Thôi rất khổ công đi tìm kiếm tình tiết và anh bao giờ cũng gặp may nhờ bởi sự khổ công tìm kiếm của mình. Chính nhờ gặp được bà Phùng Thị Tám(vợ Chín Mập) mà bài ký trở nên sống động bởi cảnh vợ chồng Chín Mập bị sóng lớn lật úp ghe giữa dòng sông Hậu. “Tất cả đều thất kinh hồn vía khi thấy một người đàn bà không mặc quần tóc xõa rối bời áo rách tả tơi cứ chạy như người điên và kêu cứu một cách hoảng loạn. Cánh đàn ông lập tức phóng xuồng ra sông tìm người bị nạn cánh đàn bà dìu bà Chín vào trong thay quần áo. Bấy giờ bà mới kịp nhận ra là mình không mặc quần và cả hanh sườn bên phải bầm đen như sắp chín vì cọ xát vào tấm ván lót ghe lúc bà cặp nách lội vào bờ”. Và cũng nhờ lặn lội mò lên Sài Gòn mà Trần Thôi gặp được Út Em minh giải được cái chết đầy cá tính và bản lĩnh của ông Chín giữa dòng sông Hậu. Đây là thành công lớn thứ ba mà Trần Thôi gặt hái được trong ký văn học của anh: khôi phục uy tín và danh dự cho một người chiến sĩ giao bưu vận về cái chết bí ẩn từng nằm trong nghi án mấy chục năm ròng.

Thành công thứ tư của Trần Thôi trong ký văn học là chất sử liệu được nâng lên thành sử thi về những vùng đất những con người giúp ta định giá đúng chân giá trị của những vùng đất những con người có thật mà bình xét đúng về góc độ chính sử. Điều đó làm nên sự hoành tráng lịch sử trong ký văn học của Trần Thôi giúp nó đứng vững với thời gian trong lòng bạn đọc! Minh chứng cho thành công này là TIẾNG VỌNG THẦM THÌ là SÔNG NUỚC GỢN BUỒN và đặc biệt nhất là trong ẢI TỬ THẦN.

Điều thứ năm mà tôi muốn đề cập(ai muốn hiểu là thành công cũng được) là ở lối viết ký chân chất chân quê mà lại đầy hóm hỉnh thú vị đầy sự phát hiện một cách mới lạ.

Chuyện anh Châu Xuân Vũ đưa hai giò phong lan tới Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh long thì rất nhiều người biết nhưng nhận ra vẽ đẹp trong tâm hồn của người lính đặc công gan cùng mình này để đưa vào văn học thì Trần Thôi là người đầu tiên.

Mới đầu bài ký viết rất đơn giản nhưng càng đọc người đọc càng bị cuốn hút bởi những mẩu chuyện những tình tiết về một con người thật về những hồi tưởng đầy ý tưởng và đầy tính phát hiện của tác giả. Tác giả ràng ràng là một anh chàng tưởng hiền lành chân thật mà khôn róc tổ. Thấy hoa đẹp thì khen nhưng hỏi khen cụ thể thế nào thì khôn khéo né ra ngoài. “Cái đẹp nó huyền bí và rất gần với sự thiêng liêng. Người nào ba hoa lắm lời trước một cánh hoa hay một người đàn bà đẹp thật sự người đó chưa cảm được cái đẹp”. Nhờ khôn khéo mà tác giả vừa được đãi một ly cà phê vừa được thêm một bài học. “Trong một ngày chỉ có hai thời khắc ngắn ngủi khi đó ngắm hoa ta mới cảm được hết cái đẹp huyền bí của nó. Đó là lúc trời rựng sáng và lúc hoàng hôn khi ráng chiều sắp tắt”.

Đang nói về người đàn ông và hai giò phong lan đột nhiên tác giả quẹo cua đưa ta ngược về miền hồi ức của anh để nghe cha ruột anh bình phẩm về tiếng gà gáy ở quê. “Riêng con gà những người sành điệu coi tướng thông qua màu lông dáng đi rồi nào là xem cựa xem chân xem vẩy. Còn ba tôi chỉ cần nghe tiếng gáy đủ biết gà đá hay hoặc dở. Theo ba tôi tiếng gáy của con gà cũng có nhiều giọng nhiều âm sắc. Tốt nhất là âm ngực nó phát ra tiếng trầm ấm vang đi rất xa. Kế đó là âm cổ và hạng bét là âm mũi. Loại này là hạng “tiểu nhân” giọng gáy tét tét nghe mà phát bực. Loại gà này thường mặt tái đầu nhỏ cần cổ ốm nhom chỉ việc moi bồ lúa thì giỏi chớ đá dở ẹt. Theo ba tôi thì vào lúc một giờ sáng con gà nào cất tiếng gáy đầu tiên là con đó có uy lực nhất. Nếu đem cáp độ sẽ thắng tất cả các con khác”.

Vào lúc ta đang say sưa với chuyện gà đá đá gà tác giả đột ngột chuyển qua chuyện tìm hiểu nhân cách của con người bằng việc bạn anh thường đặt ra ba câu hỏi: “Anh thích gì nhất? Ghét gì nhất? Sợ gì nhất?”. Tỉ như anh cán bộ nọ sợ heo bệnh là điều dễ hiểu; sợ đi họp là vì không được ở nhà chăm sóc heo; thích heo lên giá ghét lái heo ép giá cũng là điều dễ hiểu. Điều đó cho thấy ngoài heo ra anh ta chẳng còn mối qan tâm nào khác. Bắt mạch từ ba câu hỏi ấy Trần Thôi khôn khéo đặt ra cho Châu Xuân Vũ ba câu hỏi ấy để rồi sung sướng nói với chúng ta: Châu Xuân Vũ là người thích sống với thiên nhiên ghét mấy thằng cha cầm súng hơi đi bắn chim sợ làm những việc khiến lương tâm mình ân hận ray rứt. Sau khi khẳng định điều đó Trần Thôi mới trở lại mạch ký dựng sừng sững chân dung Châu Xuân Vũ trước mắt người đọc như là một người anh hùng có tâm lực trí lực và chí lực.

Gấp cuốn MƯA BÓNG MÂY lại tôi thốt nhiên chạnh nghĩ: biết đâu trong bút lực của Trần Thôi cũng có tâm lực trí lực và chí lực nên mới viết thành công đến thế.

H.T.T.

Database error

ERROR From DB mySQL

DB Error: Database query failed!
» Error No: 1062
» Error detail: Duplicate entry '11700399' for key 'PRIMARY'
» Query: INSERT INTO bd_estore_online_users (id,store_id,sid,uid,username,usertype,ip,last_updated,last_page) VALUES (NULL,'1022','17j0fbd0bhop4bn5biasd2as73','0','Guest','0','54.156.85.167','2018-08-14 13:33:42','/a5300/mua-bong-may-cua-tran-thoi.html')