chuyện ngựa

PreviewHát Tê Tê vừa Tây Nguyên du hí chưa kịp sướng xong nhưng do nổi hứng ẩu xin kể chuyện ngựa cho dzui.

Mong mọi người lượng thứ!

HTT

Preview

Chuyện về con ngựa

Từ xưa tới nay bao giờ ngựa cũng là con vật thông minh khôn ngoan sống gần gũi với người và rất được con người yêu qúy. Ngựa không những cùng chi ngọt xẻ bùi với con người khi xông pha chiến trận ngựa còn đi cả vào văn học dân gian và văn học hiện đại. Cùng với con người ngựa đã góp phần lập nên nhiều kỳ tích trong thể thao và trong chiến đấu. Ngựa là “bạn thân” của các bậc vua chúa. Danh nhân và giai nhân trên thế giới đông tây kim cổ.

Chuyện xưa kể rằng: Hán Cao Tổ ông vua sáng lập ra nhà Hán vẫn thường tự phụ là nhờ có mười năm sống trên lưng ngựa nên mới thu phục được cả giang san. Kẻ thù số một của Hán Cao Tổ là Sở Bá Vương Hạng Võ khi mới khởi nghiệp cũng thu phục được thần mã Ô Truy ở bên cạnh. Về sau khi thất thế trước giờ tự tận Hạng Võ đem con ngựa qúy nhờ nhờ người lái đò đưa nó qua sông để trở về đất Giang Đông. Nhưng khi thuyền vừa buông chèo con Ô Truy hí lên mấy tiếng ai oán rồi nhảy xuống sông mất dạng. Điều đó chứng tỏ con thần mã Ô Truy trung thành với khổ chủ đến nhường nào.

Cuối đời Hán có ngựa Đích Lư cũng thuộc loại thần mã có hạng. Nó mang Lưu Huyền Đức nhảy qua suối Đàn Khê trong khi quân của Sái Mạo truy đuổi sát theo sau; nhờ vậy mà Lưu Huyền Đức đã thoát chết trong gang tấc. Tuy nhiên ngựa Đích Lư của Lưu Bị cũng chưa nổi danh bằng ngựa Xích Thố của Quan Vân Trường. Ngựa Xích Thố có sắc lông màu đỏ tượng trưng cho ngựa qúy. Trong truyện “Tam quốc diễn nghĩa” ngựa Xích Thố mới đầu là của Lã bố sau Tào Tháo chiếm đoạt rồi đem biếu cho Quan Vân Trường. Quan Công đã cưỡi nó vượt qua năm cửa ải chém sáu tướng và lấy đầu của Nhan Lương Văn Xú dễ như bỡn. Khi Quan công chết nó cũng buồn rầu mà chết theo.

Dã sử Trung Quốc còn chép vua nước Lương có con ngựa rất qúy ngày chạy ngàn dặm tên là Tiêu Sương. Khi ngựa này bị vua Tống đánh cắp đem về nó nhớ chủ cũ bỏ ăn mà chết.

Vua Đường Minh Hoàng cũng nổi danh là ông vua mê ngựa vì trong tàu ngựa của ông có tới bốn vạn con ngựa qúy.

Đó là chuyện ngựa thật. Còn chuyện ngựa gỗ trong “Tam quốc chí’ cũng khá li kỳ. Người chế ra đàn ngựa gỗ là Khổng Minh Gia Cát Lượng một binh gia đại tài quân sư của Lưu Huyền Đức. Ngựa gỗ của Khổng Minh là một thứ ngựa máy có thể thay thế ngựa thật để vận tải quân lương. Tư Mã Ý tướng Ngụy vì không sành máy móc nên đã bị mắc lừa để cả đoàn xe lương thực cho quân Thục Hán cướp mất.

Lịch sử Việt Nam cũng nói đến con ngựa sắt thần kỳ của Phù Đổng Thiên Vương. Vào đời Hùng Vương thứ sáu giặc An tràn vào xâm lược nước ta đi đến đâu cũng đốt phá cướp bóc chém giết đến đó. Nhà vua rất lo buồn cho Sứ giả đi tìm khắp nơi để cầu kiến người hiền tài ra giúp nước.

Bấy giờ ở Kẻ Dỏng thuộc bộ Vũ Ninh cậu cậu Gióng đã lên ba tuổi mà vẫn chưa biết nói biết cười. Sứ giả của nhà vua đi kén người tài ra giúp nước vừa ngang qua nhà thì thốt nhiên Gióng nói được mời vị sứ giả đến và bảo: “Ngài về tâu với đức vua đúc cho ta con ngựa sắt roi sắt áo giáp sắt và chiếc nón sắt đem đến cho ta để ta đi đánh giặc Ân”.

Từ hôm đó Gióng lớn nhanh như thổi ăn uống mấy cũng không no. Ngựa sắt nón sắt roi sắt và giáp sắt đã rèn xong Gióng nhảy lên lưng ngựa. Ngựa hí một tiếng dài thét ra lửa lao vút ra trận. Phá xong giặc Ân Gióng phi ngựa thẳng đến chân núi Sóc Sơn ghìm cương cởi giáp và nón treo lên một cành cây sau đó cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời. Nhà vua nhớ ơn Gióng bèn cho lập đền thờ ở kẻ Dỏng và phong Gióng là Phù Đổng Thiên Vương. Hiện còn đền thờ ở làng Phù Đổng ngoại thành Hà Nội.

Việt sử còn đề cập đến chuyện con ngựa đời nhà Trần. Trong lúc làm Lễ ở chùa Lăng sau khi dẹp tan giặ Mông Cổ nhân lúc thấy các con ngựa đá đứng chầu trước các miếu đền đều dính bùn vua Trần Nhân Tông liền cảm khái làm hai câu thơ bằng chữ Hán:

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã

Sơn hà thiên cổ điện kim âu

Tạm dịch như sau:

Xã tắc hai phen bon ngựa đá

Non sông nghìn thuở vững âu vàng

Lịch sử Việt Nam có ngựa sắt ngựa đá thì lịch sử Hy Lạp có chuyện con ngựa gỗ thành Troa. Khi quân Hy Lạp đến bao vây thành Troa dân thành này chống cự hăng hái đến nỗi quân Hy Lạp không thể nào vô thành được. Theo mưu mẹo của Calchas chế ra một con ngựa gỗ rất cao lớn bên trong rỗng ruột để quân lính chui vào nấp sau đó giả vờ bỏ con ngựa lại chiến trường rồi ra lệnh tất cả thuyền bè rút ra khơi.

Dân thành Troa thấy quân Hy Lạp rút lui vui mừng kéo nhau ra khỏi thành hì hục đưa con ngựa gỗ vào trong thành như là một chiến lợi phẩm qúy giá thu được của Hy Lạp. Nửa đêm hôm ấy quân mai phục từ bụng ngựa chui ra chém giết lung tung mở cửa thành cho quân Hy Lạp tràn vào. Thế là thành Troa thất thủ vua Priam bị giết. Câu chuyện ngựa gỗ phá thành được chép lại muôn đời sau như một thiên anh hùng ca của lịch sử.

Con ngựa Incitatus của bạo chúa Caligula trong lịch sử La Mã được ông vua điên khùng này phong chức quan đại thần và được cấp cho một dinh thự xây bằng đá cẩm thạch. Còn bộ y phục của quan ngựa thì được may bằng gấm dát vàng và trang điểm bằng kim cương.

Con ngựa của Dennys D/ Argos tuy rất đẹp nhưng là ngựa trong tranh. Tương truyền bức tranh ngựa của D/ Argos giống đến nỗi có một đàn ngựa lực lưỡng trông thấy đâm ra mê mẩn bứt đứt dây cương xô đến làm suýt chút nữa bức tranh bị hỏng.

Chuyện vua Darius của nước Ba Tư lên ngôi cũng lạ lùng chẳng kém. Sau khi hoàng đế Smerdis băng hà tất cả những người trong hoàng tộc đều đồng ý với nhau rằng buổi sáng hôm sau con ngựa của người nào lên tiếng trước thì người đó sẽ được làm vua. Thế rồi buổi sáng hôm sau con ngựa của Darius vốn mến chủ vừa trông thấy chủ đã hí vang lên để chào mừng. Darius lên ngôi hoàng đế chỉ nhờ vào tiếng hí của con ngựa qủa thật hiếm có xưa nay.

Có thể nói con ngựa nổi danh nhất thế giới là con Bucephalus của vua Alexandre Grand.

Chuyện kể rằng một người lái buôn Ba Tư dắt con hắc mã đến bán cho vua Philippe của xứ Macédoine nhưng tất cả các tay kỵ mã giỏi nhất đều bó tay không thể nào điều khiển nổi con ngựa bất kham này. Hoàng tử Alexandre lúc đó hãy còn là một cậu bé đi chậm rãi đến bên con ngựa dịu dàng đưa tay vỗ nhẹ vào cổ nó và khẽ lái con thần mã về hướng mặt trời để không còn sợ bóng của nó. cậu vuốt ve nhè nhẹ và cuối cùng làm chủ được con vật dữ tợn. Vua Phippe đã phải buột miệng: “Hỡi cậu qúy tử Macédoie qúa bé nhỏ không xứng đáng với con!”.

Lời nói đã ứng nghiệm như một lời tiên tri vì 20 năm sau cậu bé từng khắc phục con thần mã đã chinh phục cả đế quốc Ba Tư rộng lớn và dựng lên một đế quốc mới bao la ở Châu Á. Sử gia Plutarch đã chứng kiến sự kiện trên cũng kể lại rằng khi con Bucephalus qua đời tại Ấn Độ Alexandre buồn bã trước cái chết của người bạn thân yêu đã cho thành lập thành phố Bucephaus để tưởng nhớ nó.

Chuyện con thần mả Bucephaus đến đây vẫn chưa hết. Vì giống của nó được tồn tại mãi đến ngàn năm sau tại các xứ Châu Á. Nhà thám hiểm Marco Polo kể rằng vua Badasan thấy cậu mình có một chuồng ngựa thuộc dòng bucephaus xin ông này một con nhưng không được liền ám sát ông để cướp ngựa. Nhưng bà mợ đã sai giết hết cả bầy ngựa đó để trả thù. Vụ này xảy ra vào năm 1280 và từ đó dòng ngựa Bucephaus bị tuyệt diệt luôn.

Chuyện con ngựa đông tây kim cổ thì rất nhiều. Ngay nay chúng ta cũng thường được đọc nhiều tác phẩm hay có liên quan đến ngựa.Vừa rồi trên tạp chí Văn số Tết có đăng một bài viết của Thế Anh góp phần đính chính một câu thơ dịch. Xét thấy đó là một câu thơ nổi tiếng mà rất nhiều người biết chương trình “Văn nghệ và cuộc sống” hôm nay mời các bạn cùng tham khảo thêm về bài viết đó.do thời lượng chương trình có hạn anh Hồ Tĩnh Tâm có lược bỏ một số mong tác giả và bạn nghe Đài hết sức thông cảm.

Trên đặc san “Người cao tuổi” số 5 – 2001 có đăng và mời dịch lại bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng đại tướng Trần Canh. Đây là bài thơ Bác Hồ sáng tác theo lối tập cổ- một lối chơi thơ mà các cụ ngày xưa hay làm. Bác mượn bài thơ “Lương Châu Từ” nổi tiếng của Vương Hãn đời Đường rồi thay một số chữ và đề tặng đại tướng Trần Canh lúc đó là cố vấn của nước bạn Trung Hoa sang giúp ta trong chiến dịch biên giới.

Bài thơ của Vương Hãn như sau:

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi

Dục ẩm tì bà mã thượng thôi.

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

Và bài thơ của Bác:

Hương tân mỹ tửu dạ quang bôi

Dục ẩm tì bà mã thượng thôi.

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu

Dịch bình hưu phóng nhất nhân hồi.

Bài thơ này của Bác đã được báo “Người cao tuổi” dịch như sau:

Rượu đẹp sâm banh lấp lánh ly

Muốn uống tì bà thúc ngưa phi.

Đừng cười say nghỉ nơi trận mạc

Không tha quân địch một tên về.

Bài dịch ở đây tuy chưa đạt cả về nội dung cũng như hình thức nhưng trong bài viết này chúng tôi chỉ xin trao đổi về cách hiểu câu thứ hai của bài thơ. Có lẽ là do thiếu tài liệu tra cứu nên từ trước đến nay câu thơ này đã được hiểu là rượu đã rót sẵn sắp uống thì tiếng đàn tì bà giục giã lên đường ra trận. Thành ra từ đó mới có những câu dịch như sau:

- Toan uống tì bà đã giục đi

- Toan uống lên yên giục tiếng tì

- Toan nhắp tì bà ngựa giục đi

Chữ “mã thượng thôi” trong câu thơ này không có nghĩa là giục lên ngựa. Để hiểu đúng câu thơ chúng ta cần chú ý một chi tiết thuộc truyền thống văn hóa của vùng Tây Vực xưa kia là khi đánh đánh đàn tì bà nhạc công thường ngồi trên lưng ngựa để biểu diễn. Trong cuốn “Cổ thi văn từ điển” có giải thích rõ: tì bà vốn là một loại nhạc cụ biểu diễn trên lưng ngựa(tì bà nguyên thị mã thượng chi nhạc). Cuốn “Đường thi giám thưởng từ điển” cũng nêu lên: Chữ “mã thượng” đôi khi làm cho người ta liên tưởng đến vấn đề lên đường xuất phát nhưng thực ra là dân tộc Hồ ở vùng Tây Vực có truyền thống ngôi trên lưng ngựa để để đánh đàn tì bà. Chữ “mã thượng” ở đây cũng không thể hiểu theo nghĩa bạch thoại là lập tức ngay lập tức như có người đề xuất. Nội dung bài thơ trên có thể hiểu một cách nôm na là: Rượu ngon đã rót sẵn mọi người trên chiếu tiệc sắp nâng cốc thì tiếng đàn tì bà trên lưng ngựa tấu lên rộn ràng như thúc giục giúp cho tiệc rượu thêm vui khuyến khích mọi người cứ uống nữa đi và dù có say nghiêng ngả thì bạn cũng chớ cười vì xưa nay đi chiến đấu có mấy người trở lại. Hiểu bài thơ như thế mới đúng với điển cố “tì bà mã thượng thôi” và cũng hợo logic hơn vì chưa uống mà đã phải lên ngựa hành quân ra trận thì làm sao mà say được.

Do đó bài thơ tập cổ tặng đại tướng Trầh Canh của Bác chúng tôi xin tạm dịch lại như sau:

Sâm banh rượu qúy chén lưu ly

Nâng cốc trên yên rộn tiếng tì.

Nghiêng ngả say tràn xin chớ mỉa

Địch không cho thoát một tên về.

Ngày dài nâng chén chúc nhau những điều tốt lành. Để góp phần giúp vui cùng các bạn mời các bạn nghe tiếp tục sau đây một câu chuyện vui có tên là “LÊN NGỰA XUỐNG XE”.

Xưa có hai vợ chồng nhà nọ rất giỏi chơi cờ tướng. Họ thường “Chàng và thiếp đêm khuya trằn trọc đốt đèn lên đánh cuộc cờ người”. Khốn nổi người vợ là tay cao cờ hơn nên ông chồng thường sớm thất thủ.

Bữa ấy có ông khách đến chơi. Sau tuần trà nước thăm hỏi hai ông ngả bàn cờ ra giải trí và giao hẹn với nhau là: “Cấm ngoại thủy không ai được dự”(nghĩa là không ai được mách nước ngoài hai người đấu trí với nhau).

Đánh được mươi nước chủ nhà lâm vào thế bí. Bà vợ vừa rót nuớc tiếp khách vừa quan sát bàn cờ. Thấy chồng ngồi bí rị bà biết rằng ông chỉ cần xuống con ngựa là “thoát hiểm”. Nhưng ngặt là không ai được mách nước nên bà liền vào giường bế con và ru: “Nẻo xa mới tỏ mặt người khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình”. Ông chồng hiểu ý đưa con mã về chân tướng. Thế cờ qủa nhiên cân bằng trở lại.

Giằng co một lúc chủ nhà lại rơi vào thế nguy. Bà vợ quan sát thấy lại cất tiếng ru con: “Bóng tà như giục cơn buồn khách đà lên ngựa người còn ghé theo”. Lần này bà chẳng cần nhấn vào từ “lên ngựa” ông chồng cũng biết nhắc ngay quân mã chuyển lên biến bại thành thắng. Thật là một sự mách nước thông minh của bà xã.

Tiếp tục chuyện “Văn nghệ và cuộc sống” mời các bạn nghe thêm một chuyện nữa có liên quan tới con ngựa đó là truyện “CHUYỆN RẮN VÀ NGỰA” của Nguyễn Văn Chương.

Một người thợ săn đi vào rừng săn bắn từ sáng sớm. Đang đi ông bỗng nghe thấy tiếng rên phì phì và tiếng kêu cứu nho nhỏ. Lại phía ấy người thợ săn thấy một con rắn độc bị tảng đá lớn đè lên ngang mình. Rắn không tài nào thoát thân ra được. Nhìn thấy người thợ săn rắn khẩn khoản:

- Anh thợ săn ơi! anh làm ơn đẩy tảng đá ra cứu tôi với. Không thì tôi chết mất.

Người thợ săn chẳng nề hà gì vội cố sức đẩy hòn đá lăn qua một bên cứu rắn. Thoát thân rắn lại hỏi:

- Anh có gì ăn được không? Tôi đói qúa!

Người thợ săn bèn đưa thức ăn của mình cho rắn. Ăn no nê xong rắn cất cao đầu nói:

- Này tên thợ săn ngốc nghếch kia. Giờ thì ta sẽ phun nọc độc cắn chết ngươi. Loài rắn của ta vốn quen lấy oán báo ân ngươi không nhớ sao?

- Sao lại thế được! – Người thợ săn kêu lên – Chuyện này chúng ta phải đi hỏi mọi người xem việc trả ơn như thế có đúng không? Nếu mọi người bảo đúng thì nhà ngươi cứ cắn chết ta. Bằng không thì đường ai nấy đi.

Rắn đồng ý cùng người thợ săn đi gặp chị bò. Nghe hai bên nói xong bò đáp:

- Không ai lấy điều ác để trả ơn cả. Ta luôn làm việc cày bừa và để người vắt sữa để trả ơn người đã cho ta ăn cỏ và chăm sóc ta.

Nhưng con rắn bướng bỉnh đáp:

- Bò là giống ngu ngốc đần độn biết gì mà nói. Hãy đi hỏi gà trống kia kìa.

Họ đi đến bên gà trống. Nghe chuyện xong gà trống bảo:

- Chỉ những kẻ vô liêm sĩ mới lấy điều ác trả ơn. Ta được ăn thóc nên trả ơn người bằng việc sáng sáng gáy vang báo thức cả làng dậy làm việc đấy.

- Con gà trống này cũng thật ngu muội. Hãy đến hỏi chú ngựa kia xem nào- con rắn nói.

Người thợ săn lại cùng con rắn đến bên chú ngựa tơ đang nghỉ dưới ốc cây. Ngựa vểnh tai chăm chú nghe rắn trình bày sự việc xong nó giả vờ điếc nói to:

- Cái gì cơ? Tai ta bị điếc nghe không rõ. Hãy đến gần đây đến bên chân ta nói lại đi. Nói chậm và nói to lên chú rắn thân mến ơi!

Rắn bèn trườn đến bên chân ngựa hỏi:

- Người thợ săn này đã cứu ta ra khỏi tảng đá. Ta trả ơn anh ta thế này đây? Có đúng là phải cắn chết anh ta không?

- Phải. Trả ơn như thế này này…

Vừa nói ngựa vừa giơ cao chân nện mạnh móng sắt vào đầu rắn độc làm đầu nó bẹp đi.

Kẻ rắp tâm làm điều ác kết cục sẽ là như vậy.

HTT