Thăng Long - Hà Nội ngàn năm Văn hiến

PreviewHà Nội là nỗi nhớ một thời tôi thường lang thang ra bến Phà Đen ngắm nước trời rồi đeo xe điện bờ Hồ đi Đồng Xuân về phố Huế chạy xe đạp đến Nghi Tàm ăn bánh tôm Hồ Tây hái sen ở Đống Đa la cà chợ Mơ chợ giời... để bây giờ...

HTT

Preview

THĂNG LONG – HÀ NỘI NGÀN NĂM VĂN HIẾN

Hồ Tĩnh Tâm

Ngày 25 tháng 8 vừa qua Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Long có tổ chức cho 14 hội viên của Hội ra Hà Nội dự Trại sáng tác tại Tam Đảo trong thời gian 20 ngày 14 hội viên của Hội đã sáng tác được hàng chục bài thơ nhiều truyện ngắn ký và tùy bút.

Kết thúc Trại các hội viên đã làm một cuộc hành trình lên Vĩnh Phú Sa Pa Lạng Sơn; sau đó trở về Hà Nội rồi tiếp tục lên đường về thăm rừng nguyên thủy Cúc Phương làng Sơn Mỹ ở Quãng Ngãi và một số địa danh nổi tiếng khác trải dài theo dải đất miền Trung của tổ quốc. Đi nhiều nơi nhưng có lẽ dấu ấn đậm nét nhất đối với các hội viên vẫn là Thăng Long – Hà Nội ngàn năm văn hiến của tổ quốc.

Cùng chung niềm vui và thành công của các hội viên văn nghệ của tỉnh nhà mời các bạn cùng HTT làm một cuộc hành trình tưởng tượng để tìm hiểu về Thăng Long – Hà Nội ngàn năm văn hiến.

Năm 1010 Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La đổi tên là Thăng Long. Trong chiếu dời đô vua Lý Thái Tổ đã viết:: “Huống gì thành Đại La kinh đô cũ của Cao vương: ở vào nơi trung tâm trời đất được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngòi Nam Bắc Đông Tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”.

Mới đó mà đã cận kề ngàn năm văn hiến Thăng Long – Hà Nội.

Văn hiến Thăng Long là sự tiếp nối và nâng cao những phẩm chất của con người Việt Nam đã được rèn đúc suốt bao nhiêu thế kỷ chiến đấu để tồn tại và phát triển. Chính tổ tiên ta từ bao đời đã sáng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để làm ra hào khí Thăng Long để hôm nay chúng ta tự hào có Hà Nội ngàn Năm văn hiến Hà Nội xanh sạch thành phố hòa bình của thế giới- trái tim của tổ quốc Việt Nam 4000 năm lịch sử.

Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) nhà vua chính thức thành lập tỉnh Hà Nội với bốn phủ là: phủ Hoài Đức phủ Thường Tín phủ Ứng Hòa phủ Lý Nhân. Danh từ Hà Nội chính thức có từ bấy giờ.

Hà Nội nghĩa là phía trong sông. Trên thực tế thủ đô Hà Nội ngày nay đại thể được bao quanh bởi sông Hồng và sông Đáy. Từ năm 1888 tổng thống Pháp đã ký sắc lệnh công nhận Hà Nội là thành phố loại I.

Ngày 19 tháng 8 năm 1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ cả nước đứng lên Tổng khởi nghĩa giành được Chính quyền từ tay phát xít Nhật. Ngày 2 tháng 9 Bác Hồ đọc lời tuyện ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình lịch sử chính thức tuyên bố khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một ngày sau đó Chính phủ lâm thời đã quyết định Hà Nội là thủ đô của cả nước.

Nói tới Hà Nội người ta thường nói tới phố cổ tới cây xanh và nói tới những hồ lớn ở nội thành. Có thể nói trên thế giới không có thành phố nào lại nhiều hồ như thủ đô Hà Nội. Hồ nhiều và đẹp tới mức đã đi vào ca dao làm nên một góc linh hồn tình cảm vô cùng thân thương của Hà Nội.

Gió đưa cành trúc la đà

Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương

Mịt mù khói tỏa ngàn sương

Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ.

Tây Hồ là Hồ Tây hồ lớn nhất ở nội thành rộng tới trên 500 héc ta. Theo thư tịch cổ Hồ Tây là một đầm lớn mù sương nên người xưa còn gọi là Dâm Đàm. Khi hai bà Trưng phất cờ khởi nghĩa trên mặt hồ(bấy giờ là một đoạn của sông Hồng) thường diễn ra những cuộc thủy chiến giữa quân của Hai Bà và quân Hán nên Hồ Tây còn có tên là hồ Lãng Bạc. Hiện nay quanh hồ còn 61 đình chùa đền phủ rất thâm nghiêm rất đáng để tham quan.

Hồ Gươm bốn mùa nước xanh màu ngọc bích nên người xưa còn gọi là hồ Lục Thủy. Với truyền thuyết Lê Lợi trả gươm cho rùa thần sau khi đại thắng quân Minh nên còn thêm tên gọi là hồ Hoàn Kiếm. Trong hồ phía bắc có một gò đất các cụ xưa gọi là núi Ngọc trong núi Ngọc có đền Ngọc Sơn cổ kính phía nam có một gò đất nữa gọi là núi rùa bên trên có Tháp Rùa uy nghiêm trầm tư soi bóng.

Từ thế kỷ 17 do triều đình cho đắp đê Cố Ngự(nay gọi chệch ra là Cổ Ngư) mà Hồ Tây được tách ra một phần thành hồ Trúc Bạch. Bờ hồ phía nam xưa có làng Trúc Yên rất nổi tiếng với nghề dệt lụa danh truyền còn để đến hôm nay.

Hồ Thiền Quang nằm trước cổng chính công viên Lê Nin trước đây vẫn gọi là hồ Liên Thủy. Gần phía đường Trần Bình Trọng có một hòn đảo nhỏ bên trên có nhà thủy tạ rất thơ mộng nay được dùng làm công viên Lê Nin.

Trong công viên Lê Nin có một hồ rộng tới 30 mẫu nhưng lại có tên là hồ Bảy Mẫu. Trong hồ có tới hai hòn đảo. Đảo Thống Nhất là một vườn hoa lớn có cầu nối với cổng phía đường Lê Duẫn. Còn đảo Hòa Bình gần với bờ phía đông là một nơi mát mẻ tĩnh mịch dành cho du khách muốn nghỉ ngơi muốn ra phải dùng thuyền.

Theo thống kê năm 1996 Hà Nội có hơn 40 hồ mỗi hồ đều có một sắc thái dáng vẻ góp phần làm nên diện mạo thơ mộng của thủ đô Hà Nội làm nên một thành phố du lịch đầy hấp dẫn.

Góp phần làm nên vẻ đẹp thâm nghiêm của ngàn năm Thăng Long – Hà Nội còn phải kể đến đình chùa miếu mạo.

Cổ nhất là chùa trấn Quốc ở Hồ Tây được xây dựng từ đời Lý Nam Đế( năm 544 – 548) còn gọi là chùa Khai Quốc An Quốc. Đây là ngôi chùa có lối kiến trúc độc đáo. Trong chùa có nhiều bia cổ và một số tượng đẹp. Đáng chú ý nhất là pho tượng Thích Ca nhập niết bàn bằng gỗ thiếp vàng.

Chùa Quán Sứ được xây dựng từ thế kỷ 15 nay được dùng để đặt văn phòng trụ sở của Giáo hội Phật giáo thống nhất Việt Nam. Trong chùa có nhiều bia đá trong đó có bia ghi công đức của Lý Quốc Sư Nguyễn Minh Không một nhà sư uyên bác được coi là ông tổ nghề đúc đồng của nước ta.

Một ngôi chùa mà không ai không nhắc đến khi nói về hà Nội đó là chùa Một Cột. Đây là một cụm kiến trúc gồm ngôi chùa và tòa đài xây dựng giữa hồ vuông. Cụm kiến trúc này có tên là chùa Diên Hựu và Đài Liên Hoa. Đài này lâu nay quen gọi là chùa Một Cột hình vuông mỗi bề 3 mét mái cong dựng trên cột đá hình trụ đường kính 1 20 mét cao 4 mét; đầu cột có một hệ thống những thanh gỗ tạo thành khung sườn kiên cố đỡ cho ngôi đài dựng bên trên vươn lên như một đóa sen tượng trưng cho tinh thần và nguyên khí của người dân Hà Nội.

Chùa và tháp luôn đi liền với nhau. Chỉ trước cổng đền Ngọc Sơn đã có tháp Hòa Phong và tháp Bút. Nhưng đã nói tới chùa thì không thể không nói đến Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

Theo sử “Toàn thư” thì Văn Miếu được xây ở Thăng Long vào tháng 10 năm 1070 đời Lý Thánh Tông đến nay đã được 930 tuổi. Văn Miếu ngày nay là khu đất hình chữ nhật chia ra năm khu với Miếu Môn Trung Môn Khuê Văn Các và một sân gạch rộng có hai dãy nhà Tả Vu Hữu Vu nhà Đại Bái Hậu Cung- nơi thờ Khổng Tử ông tổ của đạo Nho- rồi đến khu cuối cùng là Quốc Tử Giám- một quần thể những công trình kiến trúc tương tự như khu Đại Thành là nơi tôn vinh các danh nhân các bậc thầy đạo cao đức trọng nơi giới thiệu các tư liệu liên quan đến việc học hành thi cử nơi tổ chức các hoạt động văn hóa khoa học… là trường học còn lại xưa cổ nhất của nước ta. Văn Miếu nổi tiếng với 82 tấm bia tiến sĩ của 82 khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779.

Sẽ thiếu sót vô cùng nếu chúng ta nói tới chùa tháp đền phủ mà không nói tới cột cờ Hà Nội.

Toàn bộ cột cớ gồm ba tầng đế và một thân cột. Các tầng có hình chóp vuông cụt nhỏ dần xây chồng lên nhau xung quanh ốp gạch. Toàn bộ Cột Cờ cao 33 4 mét- nếu tính cả cán cờ 8 mét thì Cột Cờ Hà Nội cao 41 4 mét; được xây dựng cùng với thành Hà Nội đời Nguyễn vào năm 1805. Ngày 19 tháng 8 năm 1945 lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện trên Cột Cờ Hà Nội. Trải qua 9 năm trường kỳ kháng chiến ngày 10 tháng 10 năm 1954 trên đỉnh Cột Cờ vĩnh viễn tung bay lá cờ tượng trưng cho hồn nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Ai đã một lần đến với thủ đô đều không thể không ghé thăm lăng Bác tại quảng trường Ba Đình Hà Nội.

Lăng Bác chính là trung tâm của thủ đô Hà Nội là công trình trái tim của cả nước. Công việc xây dựng lăng chính thức khởi công ngày 2 tháng 9 năm 1973 trên vị trí của lễ đài cũ giữa quãng trường Ba Đình. Công trình lịch sử này được xây dựng nhờ công sức giúp đỡ của bạn bè quốc tế mà tích cực nhất các nhà kiến trúc hàng đầu của Liên Xô trực tiếp thiết kế và chỉ đạo thi công phần còn lại chủ yếu là sự đóng góp của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Cát để xây lăng được chọn từ suối Kim Bôi của tỉnh Hòa Bình do bà con dân tộc Mường sàng lọc đem về.

Đá cuội được chuyển từ các máng cuội ở các con suối vùng Sơn Dương Chiêm Hóa Ngòi Thia tỉnh Tuyên Quang.

Đá để xây lăng là đá bóng như sơn then ở núi Nhồi Thanh Hóa đá hoa chùa Thầy Hà Tây đá đỏ núi Non Nước Quảng Nam và vùng núi phía tây Nghệ An đá xanh ở Sơn La đá đốm trắng ở Điện Biên đá mã não ở Miền Đông Nam Bộ. riêng hàng chữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh” bằng đá màu mận chín trên đỉnh lăng là đá bản Piêu Trùng Khánh Cao Bằng. Đá đỏ nền cờ và đá màu vàng sao ở vùng núi phía tây tỉnh Thanh Hóa.

Nhân dân dọc dãy Trường Sơn gửi ra 16 loại gỗ quý. Cây cối trang trí quanh lăng cũng được đưa về từ khắp các địa phương trong nước. Như cây tre từ vùng Nước Hai Cao Bằng hoa ban từ Điện Biên cây luồng từ Thanh Hóa cây chò nâu từ Nghĩa Lĩnh đền Hùng cây dừa từ Miền Đông Nam Bộ…

Ngày 21 tháng 8 năm 1978 lăng được khánh thành gồm ba lớp với chiều cáo 6 mét. Lớp dưới tạo dáng bậc thềm tam cấp. Cấp dưới của bậc thềm là lễ đài dành cho đoàn Chủ tịch các buổi mít tinh; lớp giữa là kết cấu trung tâm của lăng gồm phòng thi hài và những hành lang những cầu thang lên xuống. Quanh bốn mặt là những hàng cột vuông bằng đá hoa cương nhìn từ mặt nào cũng hình tam cấp. Ở mặt chính có dòng chữ HỒ CHÍ MINH bằng đá hồng ngọc màu mận chính.

Bước vào phòng ngoài óng ánh trên tường đá hoa cương màu đỏ sẫm với hàng chữ vàng KHÔNG CÓ GÌ QÚY HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO ở dưới là dòng chữ ký quen thuộc của Bác. Lên cầu thang là nơi Bác an nghỉ. Trên nền tường ốp đá trắng gắn nổi hình cờ Đảng và cờ nước. Đài hoa- trên đó đặt hòm kính thi hài bác- được ghép bằng đá đen tuyền lấp lánh muôn ngàn hạt sáng. Qua lớp kính trong suốt Bác như vừa ngả lưng chợp mắt trong chốc lát. Người vẫn mặc bộ quần áo ka ki bạc màu và dưới chân vẫn là đôi dép cao su giản dị.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là nơi an nghỉ vĩnh hằng của Người là biểu tượng đời đời lòng tôn kính và biết ơn vô hạn của dân tộc Việt Nam đối với lãnh tụ của mình.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và bác Hồ vĩ đại quân dân Hà Nội đã làm nên biết bao chiến công và kỳ tích. Năm 46 các chiến sĩ cảm tử quân và trung đoàn thủ đô đã chặn đánh quân thù trong mỗi ngôi nhà trong từng góc phố tạo điều kiện để đồng bào kịp thời sơ tán ra khỏi vùng chiến địa tạo điều kiện để Trung ương Đảng và Chính phủ rút về căn cứ địa chiến khu Việt bắc.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 10 tháng 10 năm 1954 các cánh quân của ta trùng trùng tiến về thủ đô. Hà Nội tưng bừng cờ hoa trong niềm vui thắng trận. Công cuộc xây dựng Chủ nghĩa Xã hội được tiến hành với tốc độ nhanh. Nhà máy xe lửa Gia lâm nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo nhà máy dệt mồng 8 tháng 3 nhà máy cao su Sao Vàng… rồi cả một vành đai rau xanh. Hà nội trở thành niềm tự hào của cả nước.

Ngày 5 tháng 8 năm 1964 bị thua đau ở chiến trường Miền Nam đế quốc Mỹ leo thang ném bom miền Bắc. Một lần nữa quân dân thủ đô lại cầm súng giáng trả kẻ thù những đòn thất điên bát đảo ngay trên bầu trời Hà Nội. Ngày 25 tháng 6 năm 1965 lực lượng phòng không thủ đô bắn cháy chiếc máy bay trinh sát đầu tiên của Mỹ.

Ngày 6 tháng 4 năm 1972 Chính quyền Nixon tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại Miền bắc lần thứ hai. Lần này Hà Nội và Hải Phòng trở thành trọng điểm đánh phá của chúng. Cao điểm là chiến dịch 12 ngày đêm tập trung pháo đài bay chiến lược B52 máy bay phản lực các loại trong đó có cả máy bay cánh cụp cánh xòe f111 tập trung đánh phá ác liệt xuống thủ đô Hà Nội.

Trong chiến dịch này chúng đã huy động 729 lần B52 1.900 lần máy bay chiến thuật ném tất cả 10 vạn tấn bom. đây là cuộc tập kích chiến lược bằng không quân quy mô lớn và tàn bạo chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh từ trước đến nay. riêng tại hà Nội chúng đã huy động hơn 1000 lần chiếc trong đó có 500 lần máy bay B52 ném hơn 4 vạn tấn bom rải thảm

Song quân dân Hà Nội đã anh dũng cùng quân dân Miền Bắc giáng trả kẻ thù những đòn thất điên bát đảo. Trong 12 ngày đêm của tháng 12 năm 1972 Miền Bắc đã bắn rơi 81 máy bay trong đó có 34 máy bay B52 5 máy bay f111. riêng Hà Nội bắn rơi 30 máy bay trong đó có 23 B52 2 f111 đã lập nên trận Điện Biên Phủ trên không làm chấn động dư luận thế giới. Bạn bè khắp năm châu vui mừng đến kinh ngạc ca ngợi Hà Nội là thủ đô của phẩm giá con người.

Chỉ trong vòng 6 năm đế quốc Mỹ đã huy động 5.891 lần máy bay ném trên 2 vạn tấn bom xuống thủ đô Hà Nội làm 3.741 người chết 5.192 người bị thương phá hỏng nhiều nhà máy trường học nhà thờ chùa đền cầu cống làng xóm và đường phố. Nhưng từ trong những thiệt hại to lớn ấy Hà Nội đã trổi mình vương dậy to đẹp hơn đàng hoàng hơn xứng đáng là một trung tâm văn hóa giáo dục trung tâm chính trị và kinh tế của cả nước.

Kể từ ngày đất nước thống nhất Hà Nội đã nhanh chóng chuyển từ không khí chiến tranh sang nhịp sống hòa bình; người Hà Nội lại làm thơ viết văn viết kịch… lại trở về với nét thanh lịch của văn hiến ngàn năm.

Nói tới Hà Nội người ta thường nói tới đào Nhật Tân tranh dân gian làng Hồ gốm mỹ nghệ Bát Tràng bánh tôm Hồ Tây bánh cuốn Thanh Trì chả cá Lã Vọng bánh cốm làng Vòng. Bởi vì dù sao thú ẩm thức cũng là một nét đẹp của nền văn hóa Thăng Long ngàn năm. Tất nhiên nghệ thuật ẩm thực có truyền thống lịch sử của nó có sự ảnh hưởng sâu sắc của vị trí địa lý của truyền thống văn hóa từng vùng khẩu vị của người phương Bắc có thể khác với khẩu vị của người phương Nam song dù sao đó cũng là một góc tình cảm của con người đối với quê cha đất tổ.

Với những ai đã sống qua ở Hà Nội dù ít hay nhiều họ đều có những kỷ niệm nhất định. Và khi những gì về một vùng đất đã trở thành kỷ niệm nó sẽ trở thành niềm lay thức không bao giờ nguôi được trong cuộc đời của mỗi một con người.

Hà Nội với tôi là một thời tuổi trẻ có đào phai mùa xuân có sấu chua mùa hè có mùa thu hương cốm và mùa đông lành lạnh mưa phùn gió bấc. Làm sao tôi có thể quên được bến Phà Đen quên được hồ Giảng Võ. Nhớ về Hà Nội là nhớ về năm cửa ô trong đó có Ô Quan Chưởng. Cây bàng ngày xưa có còn không? Cây lộc vừng bên hồ Gươm năm nay đã bao nhiêu tuổi?..

Những kỷ niệm của một thời có bao giờ nguôi nhớ ở trong tôi.

Và vì những điều thiêng liêng ấy tôi mạo muội viết về nỗi nhớ của tôi:

Kỳ lạ thay

Đêm đêm… Hà Nội

Cứ hiện về day dứt trong tôi

Đường Cổ Ngư mưa rơi

Hàng liễu xanh mờ tóc ướt

Ta đưa em về phố Huế

Chợ Mơ ồn ào níu bước chân.

Hà Nội năm cửa ô

Ta cùng em ra Cửa Bắc

Đê sông Hồng xanh như mắt

Nước sông Hồng đỏ như mắt

Em vui buồn thuở ấy cùng ta.

Đất nước bao la

Trường Sơn sau lưng biển Đông trước mặt

Những nẻo đường vào Nam ra Bắc

Hà Nội có bao giờ xa xăm!..

Mưa phùn mùa đông

Mùa thu hoa sữa

Mùa hè xanh qủa sấu chua đầu lưỡi

Mùa xuân đi hái lộc Hồ Gươm.

Cầu Long Biên vắt ngang mùa bão

Đào Nhật Tân thắp đỏ heo may

Bầy sâm cầm bay từ nỗi nhớ

Dừng tay chèo chuông Trấn Vũ còn ngân.

Hà Nội nghìn năm

Đôi ta được mấy ngày giữa lòng Hà Nội?

Đêm đêm ngắm sao trời vời vợi

Ta nhớ về Hà Nội nhớ em ơi!..

HTT

Lê Phát

vào thử Blog Lê Phát nha thầy.Em mới tạo đó! :P