NGHỀ ĐÓNG GHE NGHỀ LÀM NƯỚC MẮM NGHỀ THỔI GÀ NƯỚC NGHỀ MỘC... Ở XÃ CÙ LAO AN BÌNH- HỒ TĨNH TÂM

Do có một số sinh viên đang nghiên cứu về văn hóa Việt Nam trong có nghiên cứu về các phong tục tập quán các sắc giới tôn giáo các nghề truyền thống dân gian các sinh hoạt và lễ hội dân gian Hồ Tĩnh Tâm quyết định sẽ công bố từng phần công trình nghiên cứu văn hóa dân gian của Hồ Tĩnh Tâm tại xã cù lao An Bình
ngõ hầu giúp các bạn sinh viên có thêm tài liệu tham khảo.
Công trình nghiên cứu này của Hồ Tĩnh Tâm được hỗ trợ rất lớn về tiền cũng như sự động viên từ Bộ Văn hóa - Thông tin Sở Văn hóa - Thông tin Vĩnh Long Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Long sự hợp tác tích cực của nhà văn Trần Thôi và anh Nguyễn Hồng Tâm ở cù lao Đồng Phú.

Các bạn sinh viên nếu lấy sử dụng vào các bài viết hoặc các bài tập nghiên cứu Khoa học
cũng như dùng cho việc bảo vệ luận án xin ghi rõ nguồn từ tài liệu của Hồ Tĩnh Tâm.

Tất nhiên đây là một công trình nghiên cứu khá công phu của Hồ Tĩnh Tâm trên nhiều bình diện khác nhau về địa văn hóa của một vùng đất cụ thể đóng khung trong phạm vi xã cù lao An Bình với độ dày trang viết khá lớn Hồ Tĩnh Tâm không thể công bố hết cùng một lúc nên các bạn sinh viên nào cần có tài liệu tham khảo đầy đủ xin gọi trước số 0913648732 cho Hồ Tĩnh Tâm để liên hệ.

 

phần tri thức và tri thức dân gian 

hotinhtam tạm dừng ở chương III này
các chương khác sẽ tiếp tục giới thiệu sau

CÁM ƠN CÁC BẠN VÀ MONG NHẬN ĐƯỢC SỰ ĐÓNG GÓP CHÂN TÌNH! 

 

 

8. Nghề đóng ghe.

Do địa hình sông nước phương tiện đi lại làm ăn chủ yếu phải nương dựa vào ghe xồng nên nghề đóng ghe xuất hiện khá sớm ở An Bình- chủ yếu là đóng các loại ghe nhỏ để giăng câu đặt lờ chuyên chở cây trái…

Nghề này cất trại ở trên bờ sát với mí sông sử dụng chủ yếu là gỗ sao- thứ gỗ giỏi chịu nước. Gỗ súc được bè từ các nơi về trục lên xẻ ra thành ván. Trước tiên người ta đóng khung ghe bằng cách kê khung ghe trên những bàn trượt(nếu là đóng ghe lớn) để sau này dễ hạ thuỷ. Khung ghe được gia cố chắc chắn bằng những thanh đà ngang. Thanh đà phía dưới uốn cong theo hình lòng ghe. Thanh đà sau đó được kết lại bởi các tấm ván thành lườn ghe. Các lườn ghe được trám kín bằng dầu rái(thứ dầu được lấy ra từ cây dầu có trộn thêm bông gòn và một số phụ gia khác). Ở hai đầu mui ghe và lái ghe được gắn kết thêm bằng những cây đà ngang thẳng và chắc chắn. Nếu là ghe thương hồ(dùng chuyên chở buôn bán) thì có đóng thêm nóc ghe. Thuở xưa ghe chạy buồm nên có đóng cột buồm và may buồm bằng vải diềm bâu nhuộm nâu. Về sau sử dụng máy dầu máy coler người ta bỏ hẳn cột buồm đóng thêm phần trụ phần hộp để gắn máy coler hoặc đựng máy dầu(với ghe chở khách người dân gọi là tàu đò).

An Bình là xã cù lao nên với nghề đóng ghe chủ yếu là đóng ghe nhỏ. Đến nay chỉ còn hai cơ sở(theo tài liệu thu thập của ông Nguyễn Hồng Tâm- Phòng VHTT TX Vĩnh Long).

Nghề này thờ Thần Tài thần Thổ Công Thổ Địa và thờ Thuỷ Long Thánh Phi cậu Trây cậu Quý. Lễ cúng kiếng kiêng cữ cũng gần giống với dân vạn chài.

 

9. Nghề làm nước mắm.

Do dồi dào về nguồn lợi thuỷ sản thu được từ nghề đóng đáy trên sông nghề làm nước mắm là một nghề rất phát triển ở An Bình. Nguyên liệu chủ yếu là cá cơm cá linh nước ngọt.

Kỹ thuật làm nước mắm đầu tiên là kỹ thuật làm chượp ủ cá. Chượp cá đóng bằng thùng gỗ lớn cao cỡ đầu người được ghép bằng những tấm ván dày có đóng đai gỗ buộc giằng xung quanh bằng song mây hoặc tre. Chạp ủ cá hình ống ở giữa phình ra hai đầu thắt lại. Đường kính(phần lớn nhất) khoảng 1 5 mét. Chượp lớn có thể rất cao và rất lớn tuỳ theo quy mô sản xuất của gia chủ. Cá sau khi rửa sạch được cho vào chạp. Cứ một lớp cá một lớp muối. Khi đầy chặp thì dùng vỏ tràm đậy kín phần trên miệng ràng chặt bằng lá dừa nước và dây cờ bắp(thứ dây làm từ tàu lá  dừa nước rất bền); sau đó phơi nắng để ủ. Càng được nắng chượp cá càng thơm. Cá ủ không cần cá tươi hơi ươn càng tốt. Phơi chừng vài chục ngày thì cá phân huỷ rã thịt; lúc này chủ làm nước mắm sẽ cho vào chượp một số phụ gia để làm cho nước cốt nhỉ trong chượp thật dậy mùi. Khi chượp cá đã tươm ra nhiều nước cốt nhỉ người ta mở vòi ở đáy chượp để lấy nước cốt nhỉ ra rồi lại đổ trở lại vào chượp. Sau vài lần lấy ra và đổ vào như vậy người ta mấy tiến hành lấy nước cốt một cốt hai… để nấu thành nước mắm các loại. Nước mắm ngon phải đạt tiêu chuẩn từ 20 độ đạm trở lên(tức thả hột cơm vào phải nổi trên mặt nước mắm).

Các chủ hãng hành nghề sản xuất nước mắm nổi tiếng ở An Bình là Bảy Hiến Hồng Vũ Hồng Hương Đại Phát… Đến nay các hãng này vẫn còn tồn tại và phát triển là do nguồn cá được cung cấp từ Kiên Giang Cà Mau Bạc Liêu Sóc Trăng; mỗi hãng có cỡ vài chục công nhân quy mô sản xuất vẫn rất lớn.

Nghề này thờ Thần Tài Thổ Công Thổ Địa và thờ cả Bà Cậu. Lễ tục cúng kiếng kiêng cữ cũng gần giống với các nghề khác.

 

10. Nghề chằm lá.

Do nhu cầu về nhà ở thuở ban đầu và cũng do sự sẵn có ngút ngàn nguồn lá dừa nước(lá tối trời) ở Nam Bộ ngay từ rất xa xưa chằm lá đã là một nghề rất phổ biến ở An Bình. Với nghề này người dân thường dựng sạp de ra mặt sông trên có mái lợp che mưa nắng rồi quây quần ngồi chằm lá với nhau. Lối nhà sàn này vừa mát cho người chằm lá vừa dễ bề thu mua lá gốc và chất lá đã chằm xuống ghe chở đi bán ở nơi khác.

Lá dừa nước phải chọn thứ lá già vừa tuổi rọc theo tàu lá để lấy từng cọng lá. Tàu lá già được chẻ ra làm hom tàu lá non được chẻ nhỏ ra làm lạt(gọi là cờ bắp). Hom sau khi phơi khô phải to cỡ ngón tay cái người lớn dài khoảng  1 5 đến 2 0 mét. Lạt được chẻ từ cật của tàu lá dài khoảng 30 cm. Khi chằm trước tiên người ta tề bớt đầu cứng của lá theo  đường vạt nhọn rồi bẻ gập phần trên(phần cứng) của cọng lá khoảng gang tay ốp vào cây hom. Cọng lá đầu tiên và cuối cùng được cột chặt vào hom; các cọng tiếp theo được kết lại với nhau bằng lạt theo lối xiên vào như may áo. Lá to lành để ngoài; lá vụn rách lót vào trong cho cứng và tiết kiệm. Cứ ngàn lá thì gọi là một thiên vài thiên thì đủ lợp một ngôi nhà.

Nghề này công xá không cao nhưng là nghề tận dụng nông nhàn và tận dụng được cả sức lao động của người già trẻ em và phụ nữ nên thuở trước rất thịnh hành ở An Bình. Chủ vựa chằm lá cũng như chủ chiếu khi cần có lượng lá lớn giao cho thương lái cũng động viên người làm tranh thủ chằm thêm vào ban đêm. Lúc này họ thường dùng đèn măng sông hoặc đèn BC thắp sáng; về khuya có nấu cháo vịt hoặc chè bồi dưỡng thêm cho thợ.

Nghề chằm lá thờ Thần Tài Thổ Công Thổ Địa. Lễ tục kiêng cữ cũng gần giống như các nghề khác.

 

11. Nghề thổi gà nước.

Vào giữa thế kỷ 20 về trước An Bình còn là xứ đồng hoang cỏ lác các loài chim chóc rất nhiều. Bấy giờ ở đây có một loài chim bay đen dặc thành đàn hàng ngàn con bà con gọi là chim lá rụng. Giống chim này chỉ cần một bầy sà xuống ruộng là chỉ trong chốc lát chúng lượm không còn một hạt giống hoặc ăn xơ xác cả ruộng mùa sắp gặt. Còn các thứ chim lớn như le le cồng cộc chàng bè gà đãi cu sáo cò diệc… cũng nhiều vô kể. Theo đó mà người dân đã nghĩ ra nghề bắt chim bẫy chim… mà đặc biệt hơn cả là nghề thổi gà nước và gác chim.

Người thổi nước thường tiến hành công việc vào giác chiều để thổi chim vào ban đêm. Dụng cụ gồm một giăng lưới dài trên dưới chục mét chiều cao cỡ bằng nóc nhà được giăng trên hai cây cọc bằng tre bên dưới thả bùng nhùng làm thành một cái tùng. Công cụ thiết yếu nhất là cái tu huýt làm bằng ống trúc hoặc nắn bằng đất bắt chước tiếng chim cúm núm tiếng gà nước(gà đãi) mà thổi. Sau khi giăng lưới người thổi gà nước núp kín vào một chỗ nào đó dùng tu huýt giả tiếng chim mà thổi. Con gà tức nhau tiếng gáy con chim cũng vậy. Nghe tiếng túc túc vang lên những con gà đãi liền mò tới để đá những con cúm núm liền bay tới mà đá. Trong màn đêm nhập nhoạng chúng bay va vào tấm lưới rớt xuống bị kẹt chân trong đống bùng nhùng của tùng lưới người thổi chim chỉ việc chạy ra bắt từng con cột lại thành xâu.

Gác chim là nghề gác chim cu. Người gác chim cũng ra đồng gác chim vào lúc nhập nhoạng hoàng hôn dùng con cu mồi để nhử chim. Cu mồi được tuyển rất kỉ thường là những con khoẻ mạnh có tiếng gù độc đáo. Khi con cu mồi cất tiếng gù chim cu từ các nơi nghe được liềnbay tới. Chỉ cần thấy thoáng bóng chim từ xa cu mồi liền nổi lên gù rất dài hơi khiến những con chim trên trời tức khí sà xuống đụng vào lưới mà rớt xuống.

Gà đãi thường được bán cho kẻ chợ làm đồ ăn(vì thịt rất ngon- thường dùng để xào bầu- khìa nướng) còn chim cu thì được bán cho những người nuôi chim chơi chim.

Hàng năm sau mùa gặt chim cúm núm thường rúc trong các gốc mạ tránh nắng nên dân An Bình còn nghĩ ra cách “ném chim” rất hiệu quả. Người ném chim cần phải có một con chó săn thật khôn biết đánh hơi chim mà phăng tới cho chủ lần theo. Chó giỏi có thể biết cách tiếp cận chim và vồ lấy con chim ngoạm đem về cho chủ. Nếu con chim bị sẩy bay lên người ném chim sẽ dùng “con quăng” ném phăng tới để hạ. Con quăng là một cây sắt phi 8 dài khoảng nửa mét để có đủ sức nặng cần thiết nhằm tăng tốc độ khi ném. Cây sắt này được gắn vào một khúc gỗ cây làm tay cầm dài đủ để nắm gọn trong lòng bàn tay. Người ném chim giỏi hầu như ra con quăng lần nào cũng trúng chim.

Nghề này chỉ ít người theo nghề họ thờ cúng theo gia đình chứ không thấy thờ tổ và kiêng kị theo nghề; bởi nó là nghề mọn không phải nghề phổ biến. Tuy nhiên vào thời chim chóc còn nhiều người thổi gà nước mỗi đêm có thể kiếm ra số tiền gấp hai ba lần người theo nghề chài lưới.

 

12. Nghề ghe(ghe chở hàng chở người và ghe thương hồ).

Do địa thế An Bình nằm gữa hai con sông lớn lại bị chia cắt bởi hệ thống kinh mương dày đặc nên nghề ghe chở hàng và ghe thương hồ khá phát triển. Ghe sử dụng là các loại ghe lườn ghe tam bản vỏ lải tàu đò… Tam bản là ghe nhỏ dùng chở trái cây rau màu từ nhà ra chợ để bán cho thương lái. Ghe lườn là ghe lớn dùng chở hàng hoá vật liệu xây dựng theo đường dài. Vỏ lải là thứ ghe nhỏ cải tiến thân dài mũi nhọn mớn nước thấp có khả năng lướt nhanh trên mặt sóng- xuất hiện từ khi có máy coler4 coler 7 coler 9; và có thể là tiếp thu và cải tiến từ các loại thuyền đua của phương Tây. Tàu đò là loại ghe đặc biệt có sức chở cùng lúc vài chục người và hàng hoá; thân dài có đóng mái bằng và vách che bằng cây; dọc theo hai bên thân tàu có hai hàng băng ghế chạy dài làm chỗ ngồi cho khách. Khách đi đường dài ban ngày và ban đêm có thể giăng võng ngang qua thân tàu để ngủ. Ghe thương hồ là ghe lườn trên có gắn mái che dài suốt dọc theo ghe dùng treo hàng hoá các loại; trong lòng ghe có đóng kệ gỗ đựng mắm muối bột ngọt đường đậu bột ngọt vải vóc quần áo kim chỉ các loại- theo kiểu một cửa hàng tạp hoá lưu động trên sông nước.

Người sống bằng nghề ghe phương tiện sinh sống chính là chiếc ghe. Họ dùng ghe chở hàng hoá thổ sản xứ cù lao đi bán các nơi xa; khi trở về thì chở các thứ củi đước than đước tro trấu vôi bột phân bón thuốc trừ sâu… để bán cho các chủ vườn sử dụng vào việc làm vườn. Ghe hàng có loại ghe chuyên dụng chỉ chuyên dùng chở cát đá gạch xi măng cho xây dựng. Ghe thương hồ thì luồn lõi theo các kinh rạch để bán hàng hoặc trao đổi hàng hoá. Có khi họ bán hàng theo lối trả góp bằng lúa bằng trái cây hột vịt thịt heo… khi tới mùa.

Ghe Nam Bộ có kiểu dáng rất khác ghe ngoài Trung ngoài Bắc đầu mũi ghe thường vẽ hai con mắt rất lớn. Nghề này thờ Thuỷ Long Thánh Phi thờ Bà Cậu và thờ Hà Bá; kiêng ngồi trên nóc ghe thả thỏng hai chân xuống cửa trước cửa ghe kiêng ngồi chò hỏ ở đầu mũi ghe nhìn vào cửa ghe; buổi sáng phải xách vài thùng nước dội mũi ghe(gọi là rửa mặt cho ghe vì ghe có mắt) và đốt nhang cặm trên đầu mũi ghe. Ngày 23 mỗi tháng cúng Bà Cậu cúng Hà Bá ngày mồng 2 mỗi tháng cúng Thần Tài ngày 16 mỗi tháng cúng tam tai. Lễ vật nhất thiết phải có vịt.

 

13. Nghề mộc.

Người Miền Trung vốn giỏi nghề mộc nên ở An Bình từng có khá nhiều người hành nghề thợ mộc đóng bàn đóng ghế đóng giường tủ các loại- kể cả thợ mộc cất nhà. Nghề này sử dụng các dụng cụ cưa đục chàng bào thước Lỗ Ban con dọi dây dọi đá mài… Các thứ này có rất nhiều loại khác nhau; chẳng hạn đục thì có đục vuông đục tròn đục xoi… bào thì có bào phá bào nhẵn… cưa cũng có nhiều loại lưỡi dài ngắn bản cưa to nhỏ khác nhau.

Nghề mộc thờ Bà Cửu Thiên Huyền Nữ. Hàng năm cúng tổ vào ngày 20 tháng 12 âm lịch. Thợ mộc thuở trước rất được gia chủ trọng vọng nhà nào rước về đóng đồ đều phải lo cơm rượu mỗi ngày chu tất- nhất là thợ cất nhà gỗ thợ chạm khắc khảm xà cừ.

 

14. Các nghề khác.

Dọc theo tiến trình lịch sử của công cuộc khai phá xứ cù lao đời sống của người dân An Bình càng ngày càng phát triển. Tất nhiên theo tiến trình phát triển ấy cũng càng ngày càng có nhiều nghề mới xuất hiện dần dà trở thành nghề truyền thống của cộng đồng dân cư ở đây. Chẳng hạn như người dân đã học theo lối buôn bán của người Hoa(Quảng Đông) mở các hiệu buôn bán tạp hoá buôn bán hàng khô trên bờ; lâu dần họp lại thành chợ. Có chợ tất nhiên phải có hàng quà. Từ đó sinh ra các nghề làm bún làm sợi hủ tiếu làm bánh tráng nghề xay bột nghề nấu rượu nghề làm tàu hủ tàu hủ ki nghề làm kẹo dừa nghề làm bánh nghề bán hủ tiếu bán phở bán cháo lòng…. và cả nghề thợ bạc nghề hớt tóc nghề may quần  áo nghề bốc thuốc Nam… Khi nghề làm gạch ngói trong tỉnh Vĩnh Long rộ lên bên kia sông Cổ Chiên- phía Mang Thít- dân An Bình chuyển dần từ nhà lá sang nhà tường nghề thợ hồ cũng theo đó mà xuất hiện.

Có thể nói An Bình là hình ảnh thu nhỏ của xã hội quần cư Nam Bộ hầu như nghề nào cũng có; nhưng nó chỉ là những nghề nhỏ lẻ không phổ biến rộng không phát triển mạnh một cách ồ ạt. Định hình đến cuối thế kỷ 20 vẫn chủ yếu là nghề trồng vườn; bởi vậy người ta mới gọi An Bình là xứ cù lao cây trái.

Sau này theo thời gian nhiều nghề đã dần dần mai một nhưng lại xuất hiện thêm một số nghề mới. Chẳng hạn từ giữa thế kỷ 20 về sau người An Bình bắt đầu thích chơi kiểng từ đó xuất hiện nghề trồng kiểng chăm kiểng tạo dáng cho kiểng(thú chơi bonsai và cây thế). Và vào gần cuối thế kỷ 20 An Bình bắt đầu xuất hiện nghề nuôi cá da trơn quy mô lớn theo phương thức nuôi cá bè dưới sông và nuôi cá ao trên đất cù; làm xuất hiện ở khu vực đầu ấp Bình Lương rất nhiều bè cá sông rất nhiều ao cá lớn. Sau này khi hệ thống giao thông thuỷ bộ đều phát triển khá tốt ở An Bình còn xuất hiện cả nghề kinh doanh du lịch vườn- là một loại nghề rất mới rất lớn về nguồn lợi doanh thu hàng năm.

Do sự phát triển về nghề mà người dân An Bình nói riêng cũng như người dân Vĩnh Long nói chung hầu như nhà nào cũng thờ Ngũ Thổ Long Thần vào ngày mồng 10 và cúng Thần Tài vào ngày mồng 2 âm lịch mỗi tháng. Và theo quan niệm có kiêng có cữ có cữ có lành người dân ai cũng sớm chiều lo nhang đèn chu tất từ bàn thờ ông bà tổ tiên đến bàn thiên thờ thiên binh thiên tướng cát đảng cô hồn… Nhưng theo xu hướng phát triển của thời đại các tục lệ cũng dần dần mai một dần đi theo năm tháng. Đó cũng là một lẽ tất nhiên của một xã hội phát triển.

Còn duy trì đến hôm nay chủ yếu là tục cúng ông bà tổ tiên cúng thần hoàng hàng năm ở các đình chùa. Đồ lễ cúng tế cũng càng ngày càng biến đổi theo thời gian; nhưng có lẽ tục cúng xôi chè trái cây nhang đèn vàng mã thì sẽ vẫn còn duy trì trong nhiều thập niên nữa vì nó không tốn kém mà lại thể hiện được đời sống tâm linh của người dân trong đời sống của cộng đồng người Việt ở Nam Bộ.

Các nghệ nhân trên 70 tuổi còn lại ở xã An Bình hiện nay:

(Theo nguồn tư liệu của ông Nguyễn Hồng Tâm)

-         Đóng đáy: 3 người

-         Dệt chiếu: 2 người

-         Làm nước mắn: 2 người

 

Vĩnh Long ngày 4 tháng 1 năm 2006

Hồ Tĩnh Tâm

 

Tài liệu và nguồn tham khảo:

-         Tài liệu sưu khảo của ông Nguyễn Hồng Tâm

-         Vĩnh Long xưa và nay của Huỳnh Minh

-         Lịch sử Vĩnh Long- Ban Tuyên Giáo Vĩnh Long

-         Đặc điểm văn hoá đồng bằng sông Cửu Long- NXB quốc gia

-         Nguồn tư liệu cung cấp của các ông bà ở An Bình:

+ Bà Sáu Đực(người lớn tuổi)

               + Ông Nguyễn Hữu Nghĩa

+ Ông Trương Thành Khởi

+ Ông Sáu Yên(người lớn tuổi)

+ Bà Lê Thị Lương(nhà giáo)

+ Ông Phạm Trung Khâu(nhà văn)

+ Ông Năm Cụt(tức thầy Hai Long- người lớn tuổi)

+ Ông Ba Kiệt(nhạc sĩ Xuân Điền)

+ Bà Song Hảo(nhà thơ)

+ Ông Hai Bé(võ sư- người lớn tuổi ở TX Vĩnh Long)

+ Một số cán bộ sinh viên Trường CĐSP Vĩnh Long

          

Dzu- htt

Chào Hứa Thanh Hoàng!

HTT vừa về tới nhà cách đây hơn 1 tiếng không biết là đoàn Bạc Liêu đã kết thúc chuyến giao lưu chưa? HTT về nhà là vào thẳng trang của mình trước hết trả lời bạn bè đã mọi chuyện tính sau.

Chuyến này trở về không hiểu thằng cháu ruột sáng nay nó làm thế nào mà giờ này HTT mở cả hai cái thẻ nhớ thấy chẳng còn một tấm hình nào? Chắc là hôm nào lại phải lên Sài Gòn chép đem về.

Thanh Hoàng ạ HTT vẫn thích nghiên cứu về văn hóa lắm tuy nhiên cũng làm chưa được bao nhiêu còn phải phấn đấu nhiều lắm.

Tạm vài dòng thăm hỏi nhau vậy đã nhen!

Chúc luôn vui khỏe!

cakhucvebaclieu

Anh Tâm ơi anh thật sự sữ dụng những từ ngữ địa phương nam bộ trong bài viết nầy rất nhuần nhuyển cứ y như là dân địa phương và có đi làm những nghề dân gian nầy vậy. Thật ra bài viết rất công phu em khó cảm nhận hết được nhưng cách anh sữ dụng từ ngữ bản địa thì đã quá những công trình nghiên cứu văn hóa như thế nầy em thấy quý vô cùng. Những thế hệ sau nầy chỉ còn biết những ngành nghề như thế qua sách vở mà thôi. Cám ơn anh đã có một cong trình nghiên cứu công phu và ý nghĩa.